label

Thứ Sáu, 3 tháng 4, 2026

GIÁO XỨ CẦN XÂY BƯỚC VÀO TAM NHẬT VƯỢT QUA

 

GIÁO XỨ CẦN XÂY BƯỚC VÀO TAM NHẬT VƯỢT QUA


          Tam Nhật vượt qua hay còn gọi là tam nhật Thánh, bắt đầu từ Thánh Lễ Tiệc Ly vào chiều Thứ Năm Tuần Thánh, tiếp theo là Thứ Sáu Tuần Thánh, Thứ bảy Tuần Thánh và Chúa Nhật Phục Sinh.

          Đây là tột đỉnh của Mùa Chay Thánh và trung tâm của Năm Phụng vụ. Các Giáo phụ gọi Tuần Thánh là tuần quan trọng nhất trong Năm Phụng vụ, tuần lễ mẹ các tuần lễ.

          Thật vậy, đó là những biến cố vượt qua của Chúa Giêsu Kitô: việc Chúa chịu đau khổ, chết trên thập giá và sống lại. Mầu nhiệm Vượt qua là trung tâm điểm của các việc cử hành trong Năm Phụng vụ, của Tuần Thánh và Tam Nhật Thánh. Công đồng Vatican II đã nhấn mạnh nhiều tới điều này trong Hiến chế về Phụng vụ (các số 5. 6. 61. 102). Văn kiện những quy luật tổng quát năm phụng vụ nói một cách hết sức rõ ràng: “Chúa Kitô đã hoàn tất công trình cứu chuộc nhân loại và tôn vinh Thiên Chúa cách hoàn hảo, nhất là nhờ Mầu nhiệm Vượt qua của Người… Chính Tam nhật Vượt qua, tưởng niệm cuộc Thương khó và Phục sinh của Chúa, sáng chói lên như tột đỉnh của cả Năm phụng vụ” (số 18; x. số 19). Như vậy cử hành mầu nhiệm này là cử hành công cuộc cứu chuộc chúng ta và toàn thể nhân loại.

          Ý thức điều này, mọi thành phần dân Chúa đã được chuẩn bị để bước vào tuần thánh và tam nhật vượt qua bằng chuẩn bị tâm hồn đồng hành với Chúa trong cuộc khổ nạn và sống lại vinh quang. Giáo xứ Cần Xây cũng vậy, trước tuần Thánh cha sở đã mời cha khách về tĩnh tâm trong hai ngày. Chủ đề tĩnh tâm được cha giảng phòng hướng dẫn là: “Đồng hành với diễn biến cuộc thương khó của Chúa”. Chính trong diễn biến này, ngài liên hệ thực tế với những cách sống hàng ngày như đời sống thiêng liêng, gia đình, cách sống, giao tiếp và cả Trong nhận thức tiết kiệm để ổn định về kinh tế. Bên cạnh đó, các cha cũng ngồi tòa sáng chủ nhật thứ V mùa chay và hai buổi tối tĩnh tâm cũng như ba ngày lễ đèn. Nhờ vậy mà bước vào thánh lễ Tiệc ly chiều Thứ Năm Tuần Thánh giáo dân tham dự rất đông và hầu như 90% người tham dự đã dọn tâm hồn lên rước Chúa. Một điều cũng nên được nhắc đến đó là khai trương áo mới cho nhưng người lên đọc sách. Áo này không cầu kỳ, đơn sơ nhưng đẹp mắt và trang trọng.

          Trong thánh lễ tiệc ly hôm nay, Giáo Hội nhắc ta nhớ đến ba việc quan trọng Chúa để lại cho Chúng ta đó là: Chúa Kitô lập phép Thánh Thểchức linh mục, cũng như ban bố giới luật mới tức là giới luật yêu thương. Đồng thời người cũng dạy cho chúng ta biết khiêm hạ bằng hành động rửa chân cho các môn đệ với lời nhắn nhủ hãy rửa chân cho nhau.(GA 13, 13-14). Trong bài giảng Cha sở nhấn mạnh đến bí tích Truyền Chức và giới luật yêu thương. Ngài đặc biệt nói về Thiên Chức linh mục để phục vụ. Vì thế, Linh mục phải thánh thiện, tập giống Chúa để làm muối men cho đời đừng để muối hết mặn và men hết lên men. Cuối thánh lễ là kiệu mình thánh Chúa về nhà tạm giống như việc Chúa đi vào vườn cây dầu cầu nguyện rồi bị bắt và bị giết. Các nghi thức trong thánh lễ thứ năm tuần thánh cho ta cảm giác ly biệt ảm đạm từ hồi chuông kéo dài trong kinh Vinh danh và sau đó là tiếng mõ cũng như nhà tạm chính trống. Khăn bàn thờ được lột ra phơi bày một sự trống trải cũng như cuộc đời mất Chúa. Xin đừng để mất Chúa trong gia đình và trong mỗi người.

          Sáng thứ sáu tuần thánh lễ đèn. Năm nay số người tham gia ngắm đồng vì thế ít phài lặp lại, có cả các bạn trẻ cho dù gẫm chưa đúng cung lắm hoặc sắp xếp còn lộp chộp nhưng cũng khá và trật tự hơn. Chiều nay nghi thức tưởng niệm Chúa Giêsu chịu đau khổ và chết trên thánh giá. Giáo Hội hồi tâm, thinh lặng ăn chay kiêng thịt để chia sẻ cuộc thương khó của Chúa và như là mở tâm hồn đón nhận ơn cứu rỗi. 12 giờ trưa có chặng đàng thánh giá để mỗi người chúng ta cùng đồng hành vác thập giá theo Chúa.

          Ngày Thứ Bảy Tuần Thánh, Giáo Hội ở bên mộ Chúa để suy ngắm cuộc tử nạn của Chúa Kitô. Việc Ngài xuống mồ, cho thấy thực sự Ngài đã chết vì yêu chúng ta để cứu rỗi chúng ta. Chúng ta hãy chờ mong Chúa sống lại.

          Cầu chúc mọi người tham dự thật tốt các nghi thức tưởng niệm Tam nhật vượt qua hầu kín múc được nhiều hồng ân từ ơn cứu độ của Ngài.

Thiên Sinh






































         

Lịch Mục vụ của Đức Giám mục Giáo phận Long Xuyên tháng 4/2026

 

Lịch Mục vụ của Đức Giám mục tháng 4&5/2026



Thánh lễ Tiệc Ly (2/4): Đức Giêsu yêu thương cách dứt khoát

 

Thánh lễ Tiệc Ly (2/4): Đức Giêsu yêu thương cách dứt khoát



Chiều ngày 2/4, Thứ Năm Tuần Thánh, Đức Thánh Cha đã chủ sự Thánh Lễ Tiệc Ly tại Đền thờ Thánh Gioan Laterano ở Roma, với nghi thức rửa chân.

Vatican News

Bài giảng của Đức Thánh Cha - Thánh Lễ Tiệc Ly

Anh chị em thân mến, nghi thức phụng vụ long trọng của tối nay đưa chúng ta vào Tam Nhật Thánh của cuộc Thương Khó, Tử Nạn và Phục Sinh của Chúa. Chúng ta bước qua ngưỡng cửa này không như những khán giả, cũng không vì thói quen, nhưng được chính Đức Giêsu lôi cuốn cách đặc biệt: như những người được mời đến dự Bữa Tiệc, nơi bánh và rượu trở thành Bí tích cứu độ cho chúng ta. Thật vậy, chúng ta tham dự vào một bữa tiệc trong đó Đức Kitô, “vì đã yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, Người đã yêu thương họ đến cùng” (Ga 13,1): tình yêu của Người trở thành cử chỉ và lương thực cho tất cả, mặc khải sự công chính của Thiên Chúa. Ngay trong thế gian này, chính nơi mà sự dữ hoành hành, Đức Giêsu yêu thương cách dứt khoát, mãi mãi, với trọn chính mình.

Trong Bữa Tiệc sau hết này, Người rửa chân cho các Tông đồ và nói: “Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em” (Ga 13,15). Cử chỉ của Chúa hòa làm một với bàn tiệc mà Người đã mời chúng ta. Đó là một mẫu gương của Bí tích: trong khi xác nhận ý nghĩa của Bí tích, Người trao cho chúng ta một nhiệm vụ mà chúng ta muốn đón nhận như lương thực cho đời sống của mình. Thánh sử Gioan dùng từ Hy Lạp ὑπόδειγμα (upódeigma), nghĩa là “điều được bày ra ngay trước mắt”, để thuật lại biến cố mà ngài đã chứng kiến. Những gì Chúa cho chúng ta thấy, khi lấy nước, chậu và khăn, còn vượt xa một mẫu mực luân lý. Thật vậy, Người trao ban chính cách thức sống của Người: rửa chân là cử chỉ tóm kết mạc khải về Thiên Chúa, là dấu chỉ mẫu mực của Ngôi Lời nhập thể, là sự tưởng nhớ không thể nhầm lẫn của Người. Khi mang lấy thân phận của người tôi tớ, Người Con mặc khải vinh quang của Chúa Cha bằng cách phá vỡ những tiêu chuẩn trần gian làm vấy bẩn lương tâm chúng ta.

Cùng với sự kinh ngạc thinh lặng của các môn đệ, chính niềm kiêu hãnh của con người cũng khiến chúng ta mở mắt ra trước những gì đang xảy ra: như Phêrô, lúc đầu phản đối sáng kiến của Đức Giêsu, cả chúng ta cũng phải “luôn luôn học lại rằng sự cao cả của Thiên Chúa thì khác với ý niệm của chúng ta về sự cao cả, […] bởi vì chúng ta luôn mong muốn một Thiên Chúa của thành công chứ không phải của cuộc Thương Khó” (Bài giảng Thánh lễ Tiệc Ly, 20 tháng 3 năm 2008). Những lời này của Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI cho thấy cách rõ ràng rằng chúng ta luôn bị cám dỗ tìm kiếm một Thiên Chúa “phục vụ chúng ta”, giúp chúng ta chiến thắng, hữu dụng như tiền bạc và quyền lực. Trái lại, chúng ta không hiểu rằng Thiên Chúa thực sự phục vụ chúng ta, vâng, nhưng bằng cử chỉ khiêm tốn và nhưng không, là rửa chân: đó chính là quyền năng của Thiên Chúa. Như thế Người hoàn tất ý muốn hiến dâng sự sống cho những ai, nếu không có hồng ân này, thì không thể hiện hữu. Chúa quỳ gối để rửa chân con người, vì yêu thương con người. Và hồng ân Thiên Chúa biến đổi chúng ta.

Với cử chỉ của mình, Đức Giêsu không chỉ thanh tẩy hình ảnh của chúng ta về Thiên Chúa khỏi những ngẫu tượng và những lời phạm thượng đã làm vấy bẩn hình ảnh ấy, nhưng còn thanh tẩy hình ảnh của chúng ta về con người, vốn tỏ ra mình quyền lực khi thống trị, chiến thắng bằng cách tiêu diệt kẻ ngang hàng, cho mình là cao cả khi được người khác sợ hãi. Là Thiên Chúa thật và là người thật, Đức Kitô ban cho chúng ta một mẫu gương về sự hiến dâng, phục vụ và yêu thương. Chúng ta cần mẫu gương của Người để học biết yêu thương, không phải bởi vì chúng ta không có khả năng, nhưng vì để giáo dục chính bản thân mình, và dạy nhau, về tình yêu đích thực. Học hành động như Đức Giêsu, Dấu Ấn mà Thiên Chúa ghi vào lịch sử thế giới, là nhiệm vụ của cả một đời.

Người là tiêu chuẩn đích thực, là “Thầy và là Chúa” (Ga 13,13), Đấng lột bỏ mọi mặt nạ về thần linh và về con người. Người không đưa ra mẫu gương khi mọi người vui vẻ và yêu mến Người, nhưng trong đêm Người bị phản bội, trong bóng tối của hiểu lầm và bạo lực, để cho thấy rõ rằng Chúa yêu chúng ta không phải vì chúng ta tốt lành và tinh tuyền: Người yêu chúng ta, và vì thế Người tha thứ và thanh tẩy chúng ta. Chúa không yêu chúng ta vì chúng ta để mình được lòng thương xót của Người thanh tẩy; nhưng Người yêu chúng ta trước, nên Người thanh tẩy chúng ta, để chúng ta có thể đáp lại tình yêu ấy.

Chúng ta học nơi Đức Giêsu sự phục vụ lẫn nhau này. Thật vậy, Người không đòi chúng ta đáp lại cho chính Người, nhưng chia sẻ điều đó giữa chúng ta: “Anh em phải rửa chân cho nhau” (Ga 13,14). Đức Giáo hoàng Phanxicô đã giải thích như sau: đây “là một bổn phận phát xuất từ con tim. Tôi yêu điều này và tôi thích làm, bởi vì Chúa đã dạy tôi như vậy” (Bài giảng Thánh lễ Tiệc Ly, 28 tháng 3 năm 2013). Ngài không nói đến một mệnh lệnh trừu tượng, một quy định hình thức và trống rỗng, nhưng diễn tả lòng nhiệt thành vâng phục đối với đức ái của Đức Kitô, nguồn mạch và mẫu mực cho đức ái của chúng ta. Thật vậy, mẫu gương mà Đức Giêsu đã trao ban không thể được bắt chước vì tiện lợi, miễn cưỡng hay giả hình, nhưng chỉ vì tình yêu.

Để cho mình được Chúa phục vụ là điều kiện để phục vụ như Người đã làm. Đức Giêsu nói với Phêrô: “Nếu Thầy không rửa cho anh, anh sẽ chẳng được chung phần với Thầy” (Ga 13,8): nếu anh không đón nhận Thầy như tôi tớ, thì anh không thể tin và theo Thầy như Chúa được. Khi rửa thân xác chúng ta, Đức Giêsu thanh tẩy linh hồn chúng ta. Nơi Người, Thiên Chúa đã ban cho chúng ta mẫu gương không phải về cách thống trị, nhưng về cách giải phóng; không phải về cách hủy diệt sự sống, nhưng về cách hiến ban sự sống.

Do đó, trước một nhân loại đang quỳ gối trước biết bao biểu hiện của sự tàn bạo, chúng ta cũng hãy quỳ gối như anh chị em của những người bị áp bức. Đó là cách chúng ta muốn theo gương Chúa, thực hiện điều chúng ta đã nghe trong sách Xuất Hành: “Các ngươi phải lấy ngày đó làm ngày tưởng niệm” (Xh 12,14). Vâng, toàn bộ lịch sử Kinh Thánh quy hướng về Đức Giêsu, Chiên Vượt Qua đích thực. Nhờ Người, những hình ảnh xưa đạt được ý nghĩa trọn vẹn, bởi vì Đức Kitô, Đấng cứu độ, cử hành cuộc Vượt Qua của nhân loại, mở ra cho tất cả nhân loại con đường từ tội lỗi đến ơn tha thứ, từ sự chết đến sự sống đời đời: “Đây là Mình Thầy, hiến tế vì anh em; anh em hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy” (1Cr 11,24).

Khi lặp lại các cử chỉ và lời của Chúa, chính trong tối nay chúng ta tưởng niệm việc thiết lập Bí tích Thánh Thể và chức thánh. Mối liên hệ nội tại giữa hai Bí tích này biểu lộ sự tự hiến trọn vẹn của Đức Giêsu, Thượng Tế tối cao và là Thánh Thể sống động muôn đời: trong bánh và rượu đã được truyền phép chính là “Bí tích tình yêu, dấu chỉ hiệp nhất, mối dây bác ái, bữa tiệc Vượt Qua, trong đó Đức Kitô được đón nhận, linh hồn được tràn đầy ân sủng và chúng ta được ban bảo chứng vinh quang tương lai” (Hiến chế phụng vụ Sacrosanctum Concilium, 47). Nơi các giám mục và linh mục, những người được thiết lập “làm tư tế của Giao Ước mới” theo lệnh truyền của Chúa (Công đồng Trentô, De Missae Sacrificio, 1), có dấu chỉ tình yêu của Người dành cho toàn thể Dân Thiên Chúa, mà chúng ta, anh em rất quý mến, được mời gọi phục vụ bằng trọn cả chính mình.

Vì thế, Thứ Năm Tuần Thánh là ngày của lòng biết ơn nồng nhiệt và của tình huynh đệ đích thực. Việc chầu Thánh Thể tối nay, trong mỗi giáo xứ và cộng đoàn, là thời gian để chiêm ngắm cử chỉ của Đức Giêsu, bằng cách quỳ gối như Người đã làm, và xin ơn có sức mạnh để noi gương Người trong việc phục vụ bằng chính tình yêu ấy.


Đức Thánh Cha kêu gọi Tổng thống Trump và các nhà lãnh đạo thế giới tìm giải pháp chấm dứt chiến tranh

 

Đức Thánh Cha kêu gọi Tổng thống Trump và các nhà lãnh đạo thế giới tìm giải pháp chấm dứt chiến tranh



Tối ngày 31/3/2026, kết thúc ngày nghỉ và làm việc tại Castel Gandolfo, phát biểu với các nhà báo bên ngoài Villa Barberini, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã mạnh mẽ kêu gọi Tổng thống Donald Trump và các nhà lãnh đạo trên thế giới tìm kiếm các giải pháp nhằm chấm dứt chiến tranh và giảm bớt bạo lực đang lan rộng tại nhiều khu vực, đặc biệt là Trung Đông. Đặc biệt, ngài hy vọng về một thỏa thuận ngừng bắn trong dịp lễ Phục Sinh.

Vatican News

Đức Thánh Cha nói: “Tôi được biết rằng Tổng thống Trump mới đây nói rằng ông ấy muốn chấm dứt chiến tranh. Chúng tôi hy vọng ông ấy đang tìm kiếm một lối thoát, chúng tôi hy vọng ông ấy đang tìm cách giảm bạo lực, giảm các vụ đánh bom. Đó sẽ là một đóng góp đáng kể vào việc loại bỏ lòng thù hận đang được tạo ra, đang không ngừng gia tăng ở Trung Đông và những nơi khác”.

Hy vọng về lệnh ngừng bắn trong dịp Lễ Phục Sinh

Nhân dịp lễ Phục Sinh sắp đến, ngài nhấn mạnh đây phải là “thời điểm thánh thiện, linh thiêng nhất trong năm. Đó là thời gian của hòa bình, là thời gian để suy ngẫm nhiều, nhưng như chúng ta đều biết, một lần nữa trên thế giới, ở nhiều nơi, chúng ta lại chứng kiến quá nhiều đau khổ, quá nhiều cái chết, thậm chí cả những đứa trẻ vô tội”.

Đức Thánh Cha nhấn mạnh: “Chúng ta liên tục kêu gọi hòa bình, nhưng thật không may, nhiều người lại muốn cổ vũ hận thù, bạo lực và chiến tranh”. Do đó, ngài kêu gọi mọi người, “đặc biệt là các Kitô hữu”, hãy “sống những ngày này, nhận thức rằng Chúa Kitô vẫn đang chịu đóng đinh ngày hôm nay. Chúa Kitô vẫn đang chịu đau khổ ngày hôm nay nơi những người vô tội, đặc biệt là những người đang phải chịu đựng bạo lực, hận thù và chiến tranh”.

Ngài đưa ra lời mời gọi: “Chúng ta hãy cầu nguyện cho họ, cho các nạn nhân của chiến tranh; chúng ta hãy cầu nguyện để thực sự có một nền hòa bình mới, được đổi mới, có thể mang lại sự sống mới cho tất cả mọi người”.

Trả lời các phóng viên, Đức Thánh Cha cũng bày tỏ hy vọng rằng có thể có một lệnh ngừng bắn, ngừng xung đột, trong dịp Lễ Phục Sinh.

Và ngài tiếp tục kêu gọi “tất cả những người thiện chí, những người có đức tin, hãy cùng nhau bước đi, bước đi với Chúa Kitô, Đấng đã chịu đau khổ vì chúng ta, để ban cho chúng ta ơn cứu độ, và hãy tìm cách trở thành người mang lại hòa bình”.

Chuyến viếng thăm Tây Ban Nha

Cuối cùng, khi được hỏi ngài mong đợi điều gì từ chuyến viếng thăm Tây Ban Nha, dự kiến vào tháng 6 tới, Đức Thánh Cha trả lời: “Đức tin, tình yêu thương, lòng hiếu khách và sự chào đón nồng nhiệt. Tôi đã đến thăm Tây Ban Nha hơn 40 năm và luôn thấy một dân tộc có đức tin và rất thiện chí”. Ngài hy vọng “chúng ta có thể cùng nhau sống tất cả những điều này trong chuyến thăm này”.


Thánh Lễ Dầu (2/4): Canh tân sứ mạng Kitô giáo

 

Thánh Lễ Dầu (2/4): Canh tân sứ mạng Kitô giáo



Sáng ngày 2/4, Thứ Năm Tuần Thánh, Đức Thánh Cha đã cử hành Thánh Lễ Truyền Dầu tại Đền thờ thánh Phêrô cùng với các Hồng y, Giám mục và linh mục. Ngài suy tư về ý nghĩa của sứ mạng Kitô giáo.

Vatican News

Bài giảng của Đức Thánh Cha - Thánh Lễ Dầu (2/4)

Anh chị em thân mến,

Chúng ta đã ở ngưỡng cửa của Tam Nhật Vượt Qua. Một lần nữa, Chúa sẽ dẫn chúng ta đến đỉnh cao sứ vụ của Người, để cuộc Thương Khó, Tử Nạn và Phục Sinh của Người trở nên trung tâm của sứ mạng chúng ta. Thật vậy, điều chúng ta sắp cử hành có sức mạnh biến đổi tất cả những gì lòng kiêu ngạo của con người thường làm cho chai cứng: căn tính và địa vị của chúng ta trong thế giới. Tự do của Đức Giêsu biến đổi con tim, chữa lành vết thương, chiếu rạng khuôn mặt chúng ta, hòa giải và quy tụ, tha thứ và làm cho sống lại.

Trong năm đầu tiên tôi chủ sự Thánh lễ Truyền Dầu với tư cách là Giám mục Roma, tôi ước muốn cùng anh em suy tư về sứ mạng mà Thiên Chúa thánh hiến chúng ta như dân của Người. Đó là sứ mạng Kitô giáo, cũng chính là sứ mạng của Đức Giêsu, chứ không phải một sứ mạng nào khác. Mỗi người tham dự vào sứ mạng ấy theo ơn gọi riêng và trong sự vâng phục rất cá vị đối với tiếng nói của Thánh Thần; nhưng không bao giờ tách rời khỏi người khác, không bao giờ làm tổn hại hay phá vỡ sự hiệp thông! Các giám mục và linh mục, khi lặp lại lời hứa của mình, phục vụ một dân tộc mang tính truyền giáo. Cùng với tất cả những người đã lãnh nhận Bí tích Rửa tội, chúng ta là Thân Thể Đức Kitô, được xức dầu bởi Thần Khí của tự do và an ủi, Thần Khí của ngôn sứ và hiệp nhất.

Những gì Đức Giêsu sống trong những khoảnh khắc cao điểm trong sứ vụ của Người đã được loan báo trước qua lời ngôn sứ Isaia, lời mà chính Người đã công bố trong hội đường Nazareth như là Lời được “ứng nghiệm hôm nay” (x. Lc 4,21). Trong giờ Vượt Qua, điều này trở nên rõ ràng dứt khoát: Thiên Chúa thánh hiến để sai đi. Đức Giêsu nói: “Người đã sai tôi” (Lc 4,18), diễn tả chuyển động nối kết chính Thân Thể Người với người nghèo, với những kẻ bị giam cầm, với những ai đang lần mò trong bóng tối và bị áp bức. Và chúng ta, là những chi thể của Thân Thể ấy, được gọi là “tông truyền”, Hội Thánh được sai đi, được thúc đẩy vượt ra khỏi chính mình, được thánh hiến cho Thiên Chúa trong việc phục vụ các thụ tạo của Người: “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em” (Ga 20,21).

Chúng ta biết rằng được sai đi, trước hết, bao hàm một sự dứt bỏ, nghĩa là dám rời bỏ những gì quen thuộc và chắc chắn để bước vào điều mới mẻ. Thật đáng chú ý khi “với quyền năng Thánh Thần” (Lc 4,14), sau khi chịu phép rửa tại sông Giođan, Đức Giêsu trở về Galilê và đến “Nazareth, nơi Người đã lớn lên” (Lc 4,16). Đó chính là nơi Người phải rời bỏ. Người hành động “theo thói quen của mình” (c.16), nhưng để khai mở một thời đại mới. Người sẽ phải dứt khoát rời khỏi ngôi làng ấy, để những gì đã được gieo mầm nơi đó qua việc trung thành lắng nghe Lời Chúa, từ ngày sabát này qua ngày sabát khác, được trưởng thành. Tương tự, Người cũng sẽ gọi những người khác ra đi, dám mạo hiểm, để không nơi nào trở thành một rào giậu, không căn tính nào trở thành nơi trú ẩn khép kín.

Anh chị em thân mến, chúng ta bước theo Đức Giêsu, Đấng “đã không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã tự hủy chính mình” (Pl 2,6-7): mọi sứ mạng đều bắt đầu từ sự tự hủy ấy, nơi đó mọi sự được tái sinh. Phẩm giá làm con cái Thiên Chúa của chúng ta không thể bị tước đoạt hay mất đi; đồng thời những tình cảm, những nơi chốn, những kinh nghiệm khởi nguồn cho cuộc đời chúng ta cũng không thể bị xóa bỏ. Chúng ta là người thừa hưởng nhiều điều tốt đẹp, đồng thời cũng mang những giới hạn của một lịch sử mà Tin Mừng phải chiếu sáng và cứu độ, tha thứ và chữa lành. Vì thế, không có sứ mạng nếu không có sự hòa giải với nguồn cội của mình, với những ân ban và giới hạn của nền giáo dục đã lãnh nhận; nhưng đồng thời, không có bình an nếu không có những cuộc lên đường, không có nhận thức nếu không có sự rời bỏ, không có niềm vui nếu không có mạo hiểm. Chúng ta là Thân Thể Đức Kitô khi biết tiến bước, đối diện với quá khứ mà không bị nó giam hãm: mọi sự được tìm lại và sinh hoa trái nếu trước đó được dứt bỏ, không sợ hãi. Đây là bí quyết thứ nhất của sứ mạng – và không chỉ trải nghiệm một lần, nhưng trong mỗi lần bắt đầu lại.

Hành trình của Đức Giêsu cho thấy rằng: sự tự hủy, sự sẵn sàng mất đi, tự nó không phải là mục đích, nhưng là điều kiện cho gặp gỡ và hiệp thông. Tình yêu chỉ đích thực khi từ bỏ vũ khí, không màu mè, không phô trương, biết trân trọng cách tế nhị sự yếu đuối và trần trụi. Chúng ta gặp khó khăn khi dấn thân vào một sứ mạng mong manh như thế, nhưng sẽ không có “tin mừng cho người nghèo” (x. Lc 4,18) nếu chúng ta đến với họ bằng những dấu hiệu của quyền lực; cũng không có giải phóng đích thực nếu chúng ta không trở nên tự do khỏi sự chiếm hữu. Đây là bí quyết thứ hai của sứ mạng Kitô giáo: luật của gặp gỡ. Trong dòng lịch sử, sứ mạng nhiều khi đã bị bóp méo bởi những logic thống trị, hoàn toàn xa lạ với con đường của Đức Kitô. Thánh Gioan Phaolô II đã can đảm nhìn nhận rằng: “vì mối dây liên kết chúng ta trong Thân Thể mầu nhiệm, tất cả chúng ta – dù không mang trách nhiệm cá nhân – vẫn mang gánh nặng những sai lầm và tội lỗi của những người đi trước”.[1]

Do đó, điều cấp thiết là phải nhớ rằng trong lãnh vực mục vụ cũng như xã hội và chính trị, điều thiện không thể phát sinh từ sự áp đặt. Các nhà truyền giáo vĩ đại là những chứng nhân của sự gần gũi nhẹ nhàng, với phương pháp là chia sẻ đời sống, phục vụ vô vị lợi, từ bỏ mọi chiến lược tính toán, đối thoại và tôn trọng. Đó là con đường của Nhập Thể, luôn mang hình thức hội nhập văn hóa. Ơn cứu độ chỉ có thể được đón nhận trong chính ngôn ngữ mẹ đẻ của mỗi người: “Thế sao mỗi người chúng ta lại nghe họ nói tiếng mẹ đẻ của chúng ta ?” (Cv 2,8). Kinh nghiệm Lễ Ngũ Tuần được tái diễn khi chúng ta không muốn làm chủ thời gian của Thiên Chúa, nhưng tin tưởng nơi Chúa Thánh Thần, Đấng “hiện diện và hoạt động, đến trước chúng ta, làm việc nhiều hơn và tốt hơn chúng ta”.[2]

Để đạt tới sự hòa điệu với Đấng vô hình ấy, thì chúng ta cần đến với nơi mình được sai đến bằng sự đơn sơ, tôn trọng mầu nhiệm nơi mỗi con người và mỗi cộng đoàn. Chúng ta là khách: với tư cách giám mục, linh mục, tu sĩ hay Kitô hữu. Muốn đón tiếp, trước hết chúng ta phải học để cho mình được đón tiếp. Ngay cả những nơi bị tục hóa sâu rộng cũng không phải là vùng đất để chinh phục hay tái chinh phục: “Những nền văn hóa mới vẫn tiếp tục được hình thành trong những không gian nhân loại rộng lớn này, nơi người Kitô hữu không còn quen đóng vai trò là người khởi xướng hay kiến tạo ý nghĩa, nhưng đón nhận từ đó những ngôn ngữ, biểu tượng, sứ điệp và mô hình mới, vốn mang lại những định hướng sống mới, nhiều khi trái ngược với Tin Mừng của Đức Giêsu. […] Cần phải đến nơi mà những câu chuyện và mô hình mới đang được hình thành, để dùng Lời của Đức Giêsu chạm tới những chiều sâu nhất của tâm hồn các thành phố”.[3] Điều này chỉ có thể xảy ra nếu trong Hội Thánh, chúng ta cùng nhau bước đi, nếu sứ mạng không phải là cuộc phiêu lưu anh hùng của một vài người, nhưng là chứng tá sống động của một Thân Thể gồm nhiều chi thể.

Rồi còn có một chiều kích thứ ba, có lẽ là triệt để nhất, của sứ mạng Kitô giáo. Điều này đã được biểu lộ ngay trong phản ứng dữ dội của dân Nazareth trước lời của Đức Giêsu, cho thấy khả năng bi thảm của sự hiểu lầm và khước từ: “Nghe vậy, mọi người trong hội đường đầy phẫn nộ. Họ đứng dậy, lôi Người ra khỏi thành – thành này được xây trên núi. Họ kéo Người lên tận đỉnh núi, để xô Người xuống vực” (Lc 4,28-29). Mặc dù bài đọc phụng vụ đã lược bỏ phần này, nhưng những gì chúng ta sắp cử hành từ tối nay đòi buộc chúng ta không trốn tránh, nhưng “băng qua giữa” thử thách, như Đức Giêsu, Đấng “băng qua giữa họ mà đi” (Lc 4,30). Thập giá là một phần của sứ mạng: việc được sai đi có thể trở nên cay đắng và đáng sợ hơn, nhưng cũng có thể trở nên vô vị lợi và nhiệt huyết mạnh mẽ hơn. Sự chiếm hữu mang tính đế quốc của thế giới vì thế bị phá vỡ từ bên trong; bạo lực, vốn cho đến nay vẫn được coi như luật lệ, bị vạch trần. Đấng Mêsia nghèo khó, bị giam cầm và bị khước từ, rơi vào bóng tối của cái chết, nhưng chính nhờ đó sinh ra một tạo thành mới.

Biết bao lần chúng ta cũng được cảm nghiệm những cuộc phục sinh, khi, được giải thoát khỏi thái độ phòng thủ, chúng ta bước xuống trong phục vụ như một hạt giống gieo vào lòng đất! Trong cuộc sống, chúng ta có thể đi qua những hoàn cảnh mà mọi sự dường như đã kết thúc. Khi ấy, chúng ta tự hỏi liệu sứ mạng có trở nên vô ích hay không. Đúng vậy: khác với Đức Giêsu, chúng ta cũng trải qua những thất bại phát sinh từ sự bất toàn của chính mình hoặc của người khác, thường là từ một mớ đan xen những trách nhiệm, những ánh sáng và bóng tối. Nhưng chúng ta có thể làm cho niềm hy vọng của nhiều chứng nhân trở thành của mình. Tôi muốn nhắc đến một vị đặc biệt thân thiết với tôi. Một tháng trước khi qua đời, trong sổ ghi chép các bài Linh thao, vị Giám mục thánh thiện Óscar Romero đã viết: “Vị Sứ thần tại Costa Rica đã cảnh báo tôi về một nguy hiểm cận kề ngay trong tuần này… Những hoàn cảnh không lường trước sẽ được đối diện bằng ân sủng của Thiên Chúa. Đức Giêsu Kitô đã nâng đỡ các vị tử đạo, và nếu cần, tôi sẽ cảm nhận Người rất gần khi phó dâng cho Người hơi thở cuối cùng của tôi. Nhưng hơn cả giây phút cuối cùng của sự sống, điều quan trọng là hiến dâng trọn cuộc đời cho Người và sống cho Người… Chỉ cần biết chắc chắn rằng trong Người là sự sống và cái chết của tôi là đủ để tôi được hạnh phúc và vững tin; rằng, bất chấp tội lỗi của tôi, tôi đã đặt trọn niềm tín thác nơi Người và sẽ không phải thất vọng, và những người khác sẽ tiếp tục, với sự khôn ngoan và thánh thiện hơn, công việc cho Hội Thánh và cho quê hương”.

Anh chị em thân mến, các thánh làm nên lịch sử. Đó chính là sứ điệp của sách Khải Huyền: “Xin Đức Giê-su Ki-tô là vị Chứng Nhân trung thành, là Trưởng Tử trong số những người từ cõi chết trỗi dậy, là Thủ Lãnh mọi vương đế trần gian, ban cho anh em ân sủng và bình an” (Kh 1,5). Lời chào này tóm kết hành trình của Đức Giêsu trong một thế giới bị giằng co bởi những quyền lực tàn phá nó. Ngay giữa lòng thế giới ấy, một dân mới được hình thành – không phải là những nạn nhân, nhưng là những chứng nhân. Trong thời khắc tăm tối này của lịch sử, Thiên Chúa đã muốn sai chúng ta đi để lan tỏa hương thơm của Đức Kitô ở nơi đang lan tràn mùi của sự chết. Chúng ta hãy canh tân lời “xin vâng” của mình đối với sứ mạng đòi hỏi sự hiệp nhất và mang lại sự bình an. Vâng, này chúng con đây! Chúng con vượt thắng cảm giác bất lực và sợ hãi! Chúng con loan truyền Chúa chịu chết, lạy Chúa, chúng con tuyên xưng Chúa sống lại, cho tới khi Chúa đến.

[1] Thánh Gioan Phaolô II, Sắc chỉ công bố Đại Năm Thánh 2000 Incarnationis mysterium (29/11/1998), 11.

[2] C.M. Martini, Ba câu chuyện về Thánh Thần, Milano 1997, 11.

[3] ĐTC Phanxicô, Tông huấn Evangelii gaudium (24/11/2013), 73-74.