label

Thứ Năm, 27 tháng 8, 2026

Tiếp kiến chung (26/8): Cải tổ phụng vụ giúp tín hữu tham dự phụng vụ cách ý thức và tích cực hơn

 

Tiếp kiến chung (26/8): Cải tổ phụng vụ giúp tín hữu tham dự phụng vụ cách ý thức và tích cực hơn



Sáng thứ Tư, ngày 26/8, Đức Thánh Cha đã có buổi tiếp kiến chung dành cho các tín hữu. Thời tiết Roma vẫn còn nắng nóng nên buổi tiếp kiến đã diễn ra trong Đền thờ thánh Phêrô. Đức Thánh Cha tiếp tục loại bài giáo lý về các Văn kiện của Công Đồng Vaticano II với đề tài "Các lý do của cuộc cải cách phụng vụ", là bài cuối cùng về phụng vụ theo Hiến chế Sacrosanctum Concilium.

Vatican News

Trước khi bắt đầu bài giáo lý, cộng đoàn nghe đoạn Sách Thánh được trích từ thư gởi tính hữu Híp-ri (10,8-10):
Trước hết, Đức Ki-tô nói: Hy lễ và hiến tế, lễ toàn thiêu và lễ xá tội, Chúa đã chẳng ưa, chẳng thích, mà đó chính là những thứ của lễ được dâng tiến theo Lề Luật truyền. Rồi Người nói: Này con đây, con đến để thực thi ý Ngài. Thế là Người bãi bỏ các lễ tế cũ mà thiết lập lễ tế mới. Theo ý đó, chúng ta được thánh hoá nhờ Đức Giê-su Ki-tô đã hiến dâng thân mình làm lễ tế, chỉ một lần là đủ.

Bài giáo lý của Đức Thánh Cha

Anh chị em thân mến,
trong bài giáo lý cuối cùng này về Hiến chế Sacrosanctum Concilium, hôm nay tôi muốn dừng lại ở những lý do khiến các Nghị phụ Công đồng mong muốn thúc đẩy một cuộc cải tổ phụng vụ. Về điểm này, bức Thư thứ ba từ Công đồng mà Đức Hồng y Giovanni Battista Montini, lúc ấy là Tổng Giám mục Milano, gửi ngày 28/10/1962 cho các tín hữu trong Giáo hội địa phương của ngài, giúp làm sáng tỏ điều này. Ngài viết: Phụng vụ “là sự diễn tả chân thành cả yếu tố thần linh lẫn yếu tố nhân loại. Phụng vụ là ngôn ngữ. Một mặt, phụng vụ là phương tiện truyền đạt giáo huấn của Thiên Chúa; mặt khác, là tiếng nói đối thoại với Người. Rõ ràng, phụng vụ không thể từ bỏ chức năng giáo huấn, cũng không thể không tạo cho đức tin và lòng đạo đức khả năng được diễn tả cách tự nhiên và dễ hiểu”. Được thúc đẩy bởi những xác tín này, vị Giáo hoàng tương lai, thánh Phaolô VI, khẳng định rằng các tín hữu “không thể và không được tiếp tục im lặng và thụ động. Sự hiện diện thể lý của họ không thể đi đôi với sự vắng mặt về thiêng liêng”.

Sự tương hợp giữa những tuyên bố này với những điều sau đó xuất hiện tại số 48 của Hiến chế Công đồng là điều rõ ràng: “Giáo hội hết sức quan tâm để các tín hữu không tham dự mầu nhiệm đức tin này như những người xa lạ hay những khán giả im lặng, nhưng nhờ thấu hiểu mầu nhiệm ấy qua các nghi thức và lời nguyện, họ tham dự vào hành động thánh cách ý thức, thành kính và tích cực; được Lời Chúa đào luyện; được nuôi dưỡng nơi bàn tiệc Mình Thánh Chúa; tạ ơn Thiên Chúa; khi dâng lễ vật tinh tuyền, không chỉ qua tay vị linh mục mà còn cùng với ngài, họ học biết dâng chính mình, và ngày qua ngày, nhờ sự trung gian của Đức Kitô, được nên hoàn thiện trong sự hiệp nhất với Thiên Chúa và với nhau”. Những lời này cho thấy một ý thức được đổi mới về giá trị của phụng vụ. Qua các hành động nghi lễ của Giáo hội, trong khi việc tưởng niệm công trình cứu độ được thực hiện, con người được ban khả năng sống mối tương quan đích thực với Thiên Chúa, bằng cách tiếp xúc với biến cố cứu độ. Vì các cử chỉ và lời nói của phụng vụ thánh có tính quyết định đối với việc sống kinh nghiệm này, nên sự tham dự của các tín hữu không thể mang tính thụ động.

Cuộc cải tổ của Công đồng, khi được đặt vào trung tâm của điều vốn là cốt lõi của kinh nghiệm Giáo hội, đã muốn làm cho phụng vụ tỏa sáng như “nguồn mạch chính yếu của cuộc trao đổi thần linh, trong đó sự sống của Thiên Chúa được thông truyền cho chúng ta”. Từ xác tín này nảy sinh nhu cầu giúp mọi tín hữu tiếp cận dễ dàng hơn với sự phong phú của các bản văn Kinh Thánh và các lời nguyện, đồng thời làm cho cấu trúc cử hành trở nên mạch lạc hơn so với cấu trúc được quy định trong các sách phụng vụ đang có hiệu lực lúc bấy giờ.

Thật vậy, vì là một thực tại sống động, phụng vụ qua các thế kỷ luôn trải qua những bước phát triển và thay đổi. Huấn quyền đã điều chỉnh các hình thức của phụng vụ cho phù hợp với nhu cầu của từng thời đại. Vì thế, không có gì đáng ngạc nhiên khi Công đồng Vatican II, với sự tôn trọng cao nhất đối với gia sản truyền thống, và chính để giúp gia sản ấy dễ tiếp cận hơn, đã thấy cần phải duyệt xét các sách phụng vụ.

Mục tiêu mà các Nghị phụ đặc biệt quan tâm được trình bày rõ tại số 21 của Hiến chế Sacrosanctum Concilium: “Để dân Kitô giáo nhận được chắc chắn hơn những ân sủng dồi dào mà phụng vụ thánh chứa đựng, Mẹ thánh Giáo hội mong muốn thực hiện một cuộc cải tổ tổng quát kỹ lưỡng về phụng vụ. Thật vậy, phụng vụ gồm một phần bất biến, vì do Thiên Chúa thiết lập, và những phần có thể thay đổi, vốn có thể hoặc thậm chí phải thay đổi theo dòng thời gian, nếu trong đó đã du nhập những yếu tố không còn phù hợp với bản chất nội tại của chính phụng vụ, hoặc nếu những phần ấy không còn thích hợp nữa. Trong cuộc cải tổ này, việc sắp xếp các bản văn và nghi thức phải được thực hiện sao cho những thực tại thánh mà chúng biểu thị được diễn tả rõ ràng hơn, để dân Kitô giáo có thể dễ dàng hiểu được ý nghĩa và có thể tham dự bằng một cử hành trọn vẹn, tích cực và mang tính cộng đoàn”. Sự phân biệt trong phụng vụ giữa các yếu tố thuộc về Thiên Chúa, bất biến, và các yếu tố nhân loại, vốn “có thể trải qua nhiều thay đổi khác nhau, được Hàng Giáo phẩm thánh, với sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần, phê chuẩn, tùy theo nhu cầu của thời đại, hoàn cảnh và các linh hồn” (Acta Apostolicae Sedis 39, 1947, 541-542). Điều này đã có từ Thông điệp Mediator Dei của Đức Giáo hoàng Piô XII.

Hơn nữa, ước muốn về một “cuộc cải tổ tổng quát” không đột nhiên nảy sinh, nhưng đã được thể hiện trong hoạt động của các Giáo hoàng kế vị nhau ngay từ đầu thế kỷ XX, phù hợp với những đòi hỏi của Hoạt động Phụng vụ. Tông hiến Divini Cultus của Đức Piô XI cũng nhắc lại yêu cầu để các tín hữu không tham dự các cử hành “như những người xa lạ hay những khán giả im lặng”. Ngoài ra, có thể nhắc đến những can thiệp của Đức Piô XII đối với việc sắp xếp các nghi thức Tuần Thánh: ngài đã đưa các nghi thức này trở lại những giờ tương ứng với các biến cố Vượt Qua, sau nhiều thế kỷ đã được dời lên sớm vào các giờ ban sáng. Cũng không được quên rằng thánh Gioan XXIII thấy cần phải đơn giản hóa các chữ đỏ của các Giờ kinh Phụng vụ và Sách Lễ, và đã phê chuẩn việc này bằng Tông thư tự sắc Rubricarum instructum, ngày 25/7/1960; trong văn kiện ấy, ngài giao cho Công đồng Đại kết nhiệm vụ đề ra các nguyên tắc nền tảng cho một cuộc cải tổ phụng vụ, như trong lời loan báo Công đồng.

Do đó, cuộc cải tổ phụng vụ do Công đồng Vatican II thúc đẩy nằm trong dòng chảy của truyền thống sống động của Giáo hội. Việc hiểu đúng cuộc cải tổ này cũng giúp loại bỏ những lạm dụng đã xảy ra tại một số nơi trong Giáo hội thời hậu Công đồng, và đáng tiếc đôi khi vẫn còn xảy ra cho đến ngày nay, do tuyệt đối hóa hoặc hiểu sai một số nguyên tắc làm nền tảng cho chính cuộc cải tổ.

Về điểm này, cần nhắc lại rằng Hiến chế Công đồng khẳng định: “Các hành động phụng vụ không phải là những hành động riêng tư, nhưng là những cử hành của Giáo hội, vốn là ‘bí tích hiệp nhất’, nghĩa là dân thánh được quy tụ và tổ chức dưới sự hướng dẫn của các Giám mục. Vì thế, những hành động này thuộc về toàn thể Thân thể Giáo hội, biểu lộ và tác động đến toàn thể Thân thể ấy” (Sacrosanctum Concilium, số 26).

Vì thế, trách nhiệm hàng đầu của các mục tử, của các Giám mục cũng như của từng linh mục, là gìn giữ và cổ võ một nền phụng vụ, trong sự tôn trọng các quy định phụng vụ, tỏa sáng nhờ sự đơn sơ cao quý (x. số 34), và qua đó biểu lộ Giáo hội duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền. Một nền phụng vụ như thế cũng sẽ là phương tiện căn bản của công cuộc loan báo Tin Mừng, là khí cụ ân sủng qua đó, như Công đồng dạy, chúng ta sẽ có thể học biết hiến dâng chính mình và, nhờ sự trung gian của Đức Kitô, sẽ được nên hoàn thiện trong sự hiệp nhất với Thiên Chúa và với nhau (x. số 48).

Sau bài giáo lý, Đức Thánh Cha chào các nhóm tín hữu thuộc các ngôn ngữ khác nhau. Sau đó, ngài cùng hát kinh Lạy Cha bằng tiếng Latinh và ban phép lành cho tất cả mọi người.

Thư Mục vụ tháng 9/2026 của Đức Giám mục giáo phận Long Xuyên

 Thư Mục vụ tháng 9/2026

 

Anh chị em thân mến,

Tháng 9 hằng năm tại Việt Nam là thời điểm các trường phổ thông, đại học, đại chủng viện, học viện, tiền chủng viện và các cơ sở đào tạo bước vào năm học mới. Mỗi niên khóa là một chặng đường giúp người trẻ trưởng thành hơn về nhân cách, trách nhiệm, khả năng phân định điều thiện, xây dựng các tương quan lành mạnh, phục vụ tha nhân và nhận ra tiếng gọi của Thiên Chúa trong cuộc đời mình. Hiệp thông với Giáo hội Việt Nam trong năm mục vụ 2026 với định hướng “Mỗi Tín Hữu trở thành Môn Đệ Thừa Sai”, Giáo phận Long Xuyên chọn chủ đề thư mục vụ tháng 9: “Giới trẻ, với nhân tính cao quý, được đào tạo trở thành Môn Đệ Thừa Sai”.

Tin Mừng thánh Luca thuật lại: “Đức Giêsu ngày càng thêm khôn ngoan, thêm cao lớn và thêm ân nghĩa, đối với Thiên Chúa và người ta” (Lc 2,52). Đây là hình ảnh lý tưởng cho công cuộc đào tạo người trẻ mà Giáo Phận chúng ta hướng đến.

Theo mẫu gương trưởng thành của Chúa Giêsu, Giáo Phận thi hành sứ vụ giáo dục người trẻ về thể dục, trí dục và đức dục. Về thể dục, giúp người trẻ phát triển một thân thể khỏe mạnh để học tập, phục vụ và dấn thân. Về trí dục, giúp họ lớn lên trong sự khôn ngoan, biết suy tư, phân định, tìm kiếm sự thật và khám phá lý tưởng đời mình theo thánh ý Thiên Chúa. Về đức dục, giúp họ trưởng thành trong nhân cách và tình yêu, sống đúng phẩm giá cao quý của con người được Thiên Chúa mời gọi cộng tác vào công trình sáng tạo, cứu chuộc và thánh hóa.

Đồng thời, Giáo Phận tháp tùng người trẻ trong ba tương quan nền tảng: với Thiên Chúa, với tha nhân và với thiên nhiên. Với Thiên Chúa, người trẻ được giúp cảm nghiệm Thiên Chúa là Tình Yêu, là Cha, là Thầy và là Người Bạn luôn đồng hành. Với tha nhân, họ được hướng dẫn biết đón nhận khác biệt, xây dựng cộng đoàn hiệp nhất và phục vụ. Với thiên nhiên, họ được giáo dục ý thức trách nhiệm chăm sóc ngôi nhà chung, đặc biệt trong bối cảnh đồng bằng sông Cửu Long, để biết yêu thiên nhiên, yêu con người và yêu mến Đấng Tạo Hóa.

Như vậy, giáo dục Kitô giáo hướng đến việc đào tạo con người toàn diện. Tinh thần này cũng được nhấn mạnh trong thông điệp “Magnifica Humanitas - Nhân Tính Cao Quý” của Đức Giáo hoàng Leo XIV. Theo đó, mỗi người cần được nhìn nhận trong phẩm giá cao quý của mình, được tôn trọng, bảo vệ và tạo điều kiện phát triển những khả năng Thiên Chúa đã ban. Qua giáo dục, người trẻ được giúp trả lời những câu hỏi căn bản về căn tính, ý nghĩa cuộc sống và tương lai của mình: Tôi là ai? Tôi sống để làm gì? Tôi muốn trở thành người như thế nào? Tôi có thể làm gì để cống hiến cho đời? Tôi sẽ xây dựng gia đình hay dâng hiến cuộc đời cho Chúa? Như vậy, công cuộc giáo dục của Giáo Phận nhằm đồng hành để người trẻ khám phá ơn gọi làm người, ơn gọi Kitô hữu và ơn gọi riêng mà Thiên Chúa dành cho mỗi người.

Mục tiêu cuối cùng của việc đào tạo là giúp mỗi tín hữu trở thành môn đệ thừa sai sẵn sàng ra đi loan báo Tin Mừng qua lời mời gọi “Hãy thả lưới chỗ nước sâu” (Lc 5,4). Trong hành trình ấy, Giáo Phận giới thiệu ba con đường ơn gọi căn bản cho người trẻ: ơn gọi giáo dân, trở nên men muối giữa đời; ơn gọi tu sĩ, sống đời thánh hiến theo các lời khuyên Phúc Âm; và ơn gọi giáo sĩ, phục vụ Dân Chúa qua việc rao giảng Lời Chúa, cử hành các Bí tích và hướng dẫn cộng đoàn.

 

Anh chị em thân mến,

Nhìn lại 66 năm lịch sử của Giáo Phận, chúng ta có nhiều lý do để tạ ơn Thiên Chúa về truyền thống giáo dục đáng trân trọng của Giáo Phận. Từ khi thành lập năm 1960, giáo dục luôn là một trong những ưu tiên của công cuộc loan báo Tin Mừng. Bên cạnh các giáo xứ, nhiều trường tiểu học và trung học Công Giáo đã được xây dựng, góp phần đào tạo con người và phục vụ xã hội.

Ngoài ra, Giáo Phận cũng đặc biệt quan tâm đến việc đào tạo linh mục tương lai. Chỉ sau một năm được thành lập, Giáo Phận đã lần lượt thành lập các cơ sở để đào tạo chủng sinh như: Trường Dũng Lạc Xóm Mới (1961), Tiểu Chủng Viện Á Thánh Phụng Châu Đốc (1962), Tiểu Chủng Viện Têrêsa (1964) đến Đại Chủng Viện Tôma Long Xuyên (1972).

Sau năm 1975, trong những hoàn cảnh mới, dù không còn trực tiếp điều hành các trường học và chủng viện, Giáo phận vẫn tiếp tục quan tâm đến giáo dục qua các lưu xá, học bổng dành cho học sinh nghèo. Bên cạnh đó, Giáo Phận luôn cổ vũ, tháp tùng và phân định ơn gọi ngay tại các giáo xứ, giáo họ và giáo điểm truyền giáo. Từ năm 1988, chủng sinh của Giáo Phận đã được gửi đến tu học tại Đại Chủng Viện Thánh Quý - Cần Thơ.

Nhìn lại chặng đường đã qua, chúng ta nhận ra giáo dục luôn là một trọng tâm trong sứ mạng của Giáo Phận tại đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, Giáo Phận rất quan tâm đến việc đào tạo linh mục và tu sĩ tương lai. Giáo Phận đã hình thành một tiến trình cổ vũ, tháp tùng và phân định ơn gọi mang tính liên tục: Lễ sinh - Dự tu học sinh cấp II và cấp III - Dự tu sinh viên đại học - Tu sinh trong tiền chủng viện - Chủng sinh trong chủng viện - Thường huấn sau khi chịu chức linh mục. Đây là một hành trình dài của sự đồng hành, đào tạo và trưởng thành trong ơn gọi.

Từ những suy tư trên, toàn thể Dân Chúa trong Giáo Phận được mời gọi hiệp thông và đồng trách nhiệm trong sứ vụ giáo dục thế hệ trẻ hôm nay. Các bậc cha mẹ hãy là những người đầu tiên gieo mầm ơn gọi Môn Đệ Thừa Sai nơi con cái mình. Các giáo xứ hãy xây dựng môi trường thuận lợi qua các sinh hoạt như Thiếu Nhi Thánh Thể, ca đoàn thiếu nhi, lễ sinh và các nhóm tìm hiểu ơn gọi… Các linh mục hãy nhiệt thành đồng hành với người trẻ trên hành trình khám phá và sống ơn gọi, đặc biệt là ơn gọi linh mục và tu sĩ. Các tu sĩ hãy tiếp tục làm chứng cho vẻ đẹp của đời sống thánh hiến và sứ vụ thừa sai. Các huynh trưởng và giáo lý viên, bằng sứ vụ giáo dục của mình, hãy giúp người trẻ nhận ra và phát triển những khả năng Thiên Chúa đã trao ban để phục vụ Giáo Hội và xã hội.

Để thực hiện định hướng mục vụ này, mọi thành phần Dân Chúa trong Giáo Phận được mời gọi cùng xây dựng một môi hệ thống giáo dục và đào tạo ơn gọi. Trong đó, gia đình, giáo xứ, linh mục, tu sĩ và Ban Mục Vụ Ơn Gọi hãy cộng tác với nhau để cùng hướng đến mục tiêu là giúp người trẻ trưởng thành trong nhân cách và trở thành những môn đệ thừa sai. Cách riêng, chúng ta hãy quan tâm đến những người trẻ nghèo, những em ở vùng sâu vùng xa, có hoàn cảnh khó khăn hoặc đang có nguy cơ bị bỏ lại phía sau, để các em cũng có cơ hội phát triển và đáp lại tiếng gọi của Thiên Chúa trong cuộc đời mình.

 

Riêng các bạn trẻ thân mến,

Năm đào tạo 2026-2027 đang mở ra trước mắt các con với những chặng đường và môi trường mới. Dù đang học tại trường phổ thông, đại học, tiền chủng viện hay chủng viện, Bố muốn nhắn nhủ rằng: đừng chỉ học để đạt thành tích, nhưng hãy học để trở thành người tốt; đừng chỉ học để có một nghề nghiệp, nhưng hãy học để khám phá ơn gọi của mình. Trong việc học, đừng chỉ tự hỏi mình sẽ nhận được gì, nhưng hãy nghĩ đến những gì mình có thể đóng góp cho tha nhân và xã hội. Đừng chỉ hỏi cuộc đời sẽ cho mình điều gì, nhưng hãy hỏi Thiên Chúa muốn mình phục vụ ai.

 

Anh chị em thân mến,

Chúng ta hãy phó thác thế hệ trẻ của Giáo Phận cho Chúa Giêsu, Đấng đã lớn lên trong gia đình Nadarét và chuẩn bị cho sứ vụ cứu độ qua những năm tháng học tập, lao động và đời sống thường nhật.

Chúng ta cũng xin Đức Maria, Mẹ Chúa Giêsu và Mẹ Giáo Hội, luôn đồng hành và chuyển cầu cho những người trẻ của Giáo Phận.

Xin Thiên Chúa chúc lành cho các gia đình, các cơ sở giáo dục, các linh mục, tu sĩ, chủng sinh và tất cả những ai đang dấn thân trong sứ vụ giáo dục và cổ vũ ơn gọi. Cách riêng, xin Chúa chúc lành cho người trẻ, để các bạn lớn lên trong nhân tính cao quý, trưởng thành trong đức tin và trở thành những môn đệ thừa sai nhiệt thành giữa lòng thế giới hôm nay.

 

+ Giuse Trần Văn Toản

Giám mục giáo phận Long Xuyên

CÔ ĐƠN HAY TÌNH CẢM? TẠI SAO MỘT LINH MỤC RỜI BỎ THỪA TÁC VỤ?

 

CÔ ĐƠN HAY TÌNH CẢM? TẠI SAO MỘT LINH MỤC RỜI BỎ THỪA TÁC VỤ?



27/08/2026
WHĐ (27/8/2026) - Bài viết phân tích những nguyên nhân khiến một số linh mục rời bỏ thừa tác vụ, vượt xa vấn đề khủng hoảng đức tin hay tình cảm. Sự cô đơn, kiệt sức, thiếu nâng đỡ, gánh nặng hành chính và nhu cầu tình huynh đệ cho thấy Giáo hội cần quan tâm hơn đến những điều kiện nhân bản và thiêng liêng giúp linh mục sống trọn vẹn ơn gọi.

Khi một linh mục rời bỏ thừa tác vụ, người ta thường quy nguyên nhân về một trong hai khả năng quen thuộc: khủng hoảng đức tin hoặc xuất hiện một mối quan hệ tình cảm. Tuy nhiên, các nghiên cứu về việc các linh mục rời bỏ thừa tác vụ cho thấy một bức tranh phức tạp hơn. Trong nhiều trường hợp, việc rời bỏ thừa tác vụ dường như không phải là kết quả của một quyết định đột ngột duy nhất, nhưng là giai đoạn cuối của một tiến trình kéo dài, trong đó sự cô đơn, kiệt sức, thiếu sự nâng đỡ và gánh nặng công việc quản trị mục vụ dần dần làm suy giảm khả năng của một linh mục trong việc kiên trì sống ơn gọi của mình.

“Sự cô đơn chức năng”

Một trong những vấn đề ít được nhìn thấy là điều mà các nghiên cứu xã hội học gọi là “sự cô đơn chức năng”. Một linh mục có thể dành gần như mỗi ngày ở giữa rất nhiều người – cử hành Thánh lễ, giải tội, thăm viếng các gia đình, tham dự các cuộc họp và điều hành các hoạt động giáo xứ – nhưng lại có rất ít mối quan hệ trong đó ngài có thể thành thật nói về những nỗi sợ hãi, sự mệt mỏi hay những nghi vấn của chính mình.

Nghiên cứu của nhà xã hội học người Mỹ Dean R. Hoge cho thấy 46% các linh mục đã rời bỏ thừa tác vụ trong số người mà ông nghiên cứu đã đề cập đến hình thức cô đơn này. Nghịch lý thật đáng chú ý: một linh mục có thể được bao quanh bởi rất nhiều người về mặt xã hội, nhưng vẫn bị cô lập về mặt cá nhân.

Sự phân biệt này rất quan trọng, bởi vì đời sống linh mục không đơn thuần là một nghề nghiệp đòi hỏi nhiều nỗ lực. Đời sống ấy đặt một người vào vị trí mà những người khác thường xuyên tìm đến với những vấn đề sâu kín nhất của họ, trong khi chính linh mục lại được mong đợi phải luôn là nguồn đem lại sự bình yên, hướng dẫn và sức mạnh thiêng liêng. Nếu không có những mối quan hệ đáng tin cậy, nơi chính linh mục có thể nhận được sự nâng đỡ, thì sự bất cân xứng này có thể dần trở nên bào mòn.

Một mô thức tương tự cũng xuất hiện trong nghiên cứu của Yulius Sunardi, cho thấy tình trạng cô lập kéo dài có thể góp phần dẫn đến một cuộc khủng hoảng sâu sắc hơn theo thời gian. Điều này cũng làm phức tạp thêm giả định phổ biến cho rằng một mối quan hệ tình cảm nhất thiết là nguyên nhân khiến một linh mục từ bỏ thừa tác vụ.

Trong một số trường hợp, một mối quan hệ tình cảm có thể xuất hiện sau một thời gian dài những nhu cầu nhân bản và tình cảm không được đáp ứng. Mối quan hệ ấy có thể trở thành biểu hiện của một cuộc khủng hoảng vốn đã âm ỉ từ trước, chứ không phải là biến cố ban đầu gây ra cuộc khủng hoảng.

Điều đó không có nghĩa là mối quan hệ ấy không quan trọng, cũng không loại bỏ trách nhiệm cá nhân. Tuy nhiên, nó cho thấy rằng để ngăn ngừa việc các linh mục rời bỏ thừa tác vụ, cần quan tâm đến những điều kiện thực tế mà các linh mục đang sống, thay vì chỉ tập trung vào thời điểm cuộc khủng hoảng trở nên rõ ràng.

Một áp lực khác đến từ sự biến đổi của chính đời sống giáo xứ

Một người bước vào chủng viện với hy vọng trước hết là rao giảng, cử hành các bí tích và đồng hành thiêng liêng với mọi người, có thể nhận ra rằng phần lớn thời gian làm việc trong tuần của mình lại bị chiếm dụng bởi ngân sách, nhân sự, cơ sở vật chất, giấy tờ, các yêu cầu về quy định, việc sắp xếp lịch trình và những quyết định mang tính tổ chức. Các nhà xã hội học đã mô tả chiều kích hành chính ngày càng gia tăng này bằng thuật ngữ “sự quản trị điều thánh” (administration of the sacred).

Vấn đề không phải là việc quản trị không cần thiết. Các giáo xứ cần được điều hành một cách có năng lực, và các linh mục không thể đơn giản bỏ qua những trách nhiệm vật chất gắn liền với cộng đoàn của mình. Nguy hiểm xuất hiện khi những đòi hỏi về quản trị dần dần lấn át công việc mục vụ và đời sống thiêng liêng, vốn là những điều ban đầu đem lại ý nghĩa cho ơn gọi.

Vivencio Ballano còn nhận diện một yếu tố khác: các linh mục có thể không nhận được đầy đủ sự hỗ trợ và hướng dẫn từ các Bề trên trong Giáo hội. Một thừa tác vụ vốn đã đòi hỏi nhiều sẽ trở nên khó khăn hơn đáng kể khi một linh mục cảm thấy rằng những người có trách nhiệm chăm lo cho mình chủ yếu quan tâm đến việc giáo xứ có hoạt động tốt hay không, hơn là quan tâm đến việc chính vị linh mục ấy có đang xoay xở nổi với những gánh nặng của mình hay không.

Điều này đặt ra một câu hỏi về việc đào tạo linh mục. Việc đào tạo tại chủng viện có thể nghiêm túc về mặt học thuật và sâu sắc về mặt thiêng liêng, nhưng vẫn chưa chuẩn bị đầy đủ cho các linh mục tương lai trước những thực tế tâm lý của nhiều thập niên thi hành thừa tác vụ. Những khó khăn ấy có thể chưa xuất hiện trong thời gian đào tạo, thậm chí cũng chưa xuất hiện trong những năm đầu sau khi chịu chức. Chúng có thể xuất hiện mãi về sau, khi nhiệt huyết ban đầu phải đối diện với sức nặng tích tụ của công việc thường nhật, trách nhiệm và sự cô lập.

Tình huynh đệ giữa các linh mục

Chính vì thế, tình huynh đệ giữa các linh mục cần được nhìn nhận không phải như một điều xa xỉ tùy chọn trong mục vụ, nhưng như một phần của nền tảng cần thiết để duy trì một đời sống linh mục bền vững.

Đức Thánh cha Lêô XIV đã đề cập chính xác đến vấn đề này vào tháng 02 năm 2026, khi lưu ý đến nguy cơ các linh mục bị cô lập và khuyến khích các ngài vun đắp tình bạn cũng như những mối tương quan đích thực giữa mình với tha nhân. Điểm nhấn của ngài về tình huynh đệ hướng đến một nguyên tắc tương đối đơn giản nhưng có thể mang lại những hiệu quả sâu sắc: các linh mục cần có người khác để họ có thể được sống đúng tư cách là linh mục, thay vì lúc nào cũng là những người mà mọi người khác tìm đến.

Điều này cũng có ý nghĩa quan trọng đối với các giám mục và các cơ cấu giáo phận. Nếu một linh mục được kỳ vọng phải gần như một mình gánh vác những gánh nặng thiêng liêng, cảm xúc và hành chính của một giáo xứ ngày càng phức tạp, thì cuối cùng sức mạnh và khả năng chịu đựng của cá nhân sẽ không thể thay thế đầy đủ cho sự hỗ trợ của cơ cấu tổ chức.

Giáo hội Công giáo có những lý do chính đáng để bảo vệ luật độc thân linh mục và tính chất đặc thù của chức linh mục. Nhưng bảo vệ một ơn gọi không có nghĩa là bỏ qua những điều kiện nhân bản cần thiết để ơn gọi ấy có thể phát triển tốt đẹp. Đời sống độc thân không phải là sự phủ nhận nhu cầu về tình bạn, tình cảm hay cộng đoàn; trái lại, chính vì bao hàm việc từ bỏ đời sống hôn nhân và gia đình, nên đời sống độc thân càng làm cho những hình thức tình huynh đệ thiêng liêng và nhân bản vững chắc trở nên đặc biệt quan trọng.

Bài học từ các nghiên cứu

Vì thế, bài học từ các nghiên cứu không chỉ liên quan đến câu hỏi tại sao một số linh mục rời bỏ thừa tác vụ. Vấn đề rộng hơn là Giáo hội có thể giúp các linh mục tiếp tục sống ơn gọi của mình với sự tự do, trưởng thành và niềm vui như thế nào.

Câu trả lời hữu hiệu nhất có thể bắt đầu từ rất lâu trước khi một linh mục nghĩ đến việc rời bỏ thừa tác vụ: chuẩn bị tốt hơn cho những thực tế của đời sống mục vụ; sự lãnh đạo tận tâm của các giám mục; những tình bạn có ý nghĩa giữa các giáo sĩ; bảo vệ các linh mục khỏi tình trạng cô lập kéo dài; và phân bổ các công việc hành chính một cách hợp lý hơn.

Một linh mục không cần phải được bao quanh bởi nhiều người chỉ vì ngài làm việc giữa họ. Ngài cần những mối tương quan nơi mà ngài có thể được người khác biết đến, nâng đỡ và góp ý.

Đối với một ơn gọi được xây dựng trên sự hiệp thông, đây có thể là một trong những nhu cầu thiết yếu nhưng dễ bị bỏ quên nhất.

Tác giả: Ban Biên tập Zenit (zenit.org)  

Đức Thánh Cha: Không có cách phòng ngừa ma túy nào tốt hơn một gia đình tốt

 

Đức Thánh Cha: Không có cách phòng ngừa ma túy nào tốt hơn một gia đình tốt



Sáng ngày 27/8, tiếp những người tham dự cuộc gặp về tình trạng nghiện ngập tại Châu Mỹ Latinh, Đức Thánh Cha nhấn mạnh cần có một đáp ứng toàn diện đối với vấn đề ma túy và việc tuyển mộ người trẻ vào các tổ chức tội phạm, trong đó gia đình giữ một vai trò không thể thay thế. Ngài khẳng định: “Không có sự phòng ngừa ma túy nào tốt hơn một gia đình tốt”.

Vatican News

Cuộc gặp diễn ra tại Vatican từ ngày 25 đến 27/8, với chủ đề “Đáp ứng dựa trên đức tin đối với ma túy và việc tuyển mộ người trẻ vào các tổ chức tội phạm: một cuộc đối thoại từ Châu Mỹ Latinh và vùng Caribe hướng tới thế giới”.

Trong bài diễn văn, Đức Thánh Cha nhận định rằng các chứng nghiện là “một hiện tượng phức tạp, cho thấy sự thất bại của một thế giới bị phi nhân hóa”. Theo ngài, nỗi đau của người trẻ đòi hỏi những câu trả lời toàn diện, bao gồm “phòng ngừa từ cộng đồng, chăm sóc dựa trên khoa học, công lý có khuôn mặt con người và sự đồng hành mục vụ gần gũi”.

Đức Thánh Cha đặc biệt đề cao bốn “nhịp cầu” cần được xây dựng trong việc đối phó với vấn đề nghiện ngập.

Nhịp cầu thứ nhất là giữa Giáo hội và các tổ chức quốc tế, bởi “không ai có thể một mình đối diện với vấn đề ma túy”. Ngài đánh giá cao sự hợp tác giữa Hội đồng Giám mục Châu Mỹ Latinh và Caribe, và Tổ chức các Quốc gia Châu Mỹ trong việc đào tạo các tổ chức cộng đồng dựa trên đức tin và xây dựng các mạng lưới đồng hành.

Nhịp cầu thứ hai là giữa khoa học và đức tin. Đức Thánh Cha nhấn mạnh Giáo hội không tìm cách thay thế khoa học thần kinh, tâm thần học hay y tế công cộng, nhưng muốn soi sáng vấn đề từ Tin Mừng, với một cái nhìn toàn diện về con người.

Nhịp cầu thứ ba là sự liên kết giữa các Giáo hội ở những châu lục khác nhau. Và nhịp cầu thứ tư là đại kết. Theo Đức Thánh Cha, trong việc thực hành tình yêu cụ thể đối với những người đau khổ, các cộng đoàn Kitô giáo có thể tìm thấy “một ngôn ngữ chung rất hùng hồn xuất phát từ đức tin”.

Tuy nhiên, Đức Thánh Cha dành sự chú ý đặc biệt về gia đình, được Công đồng Vatican II gọi là “Giáo hội tại gia”. Ngài nhắc đến nỗi đau của nhiều gia đình tan vỡ vì ma túy, bạo lực, nghèo đói, thiếu cơ hội hoặc vì con cái bị các tổ chức tội phạm tuyển mộ.

Nhắc lại lời Thánh Gioan Phaolô II về Giáo hội như “ngôi nhà và trường học của sự hiệp thông” và lời Đức Giáo hoàng Phanxicô mời gọi “chạm đến thân xác đau khổ của người khác”, Đức Thánh Cha cho rằng cốt lõi của sứ mạng mục vụ là làm cho Giáo hội trở thành một gia đình, đặc biệt đối với những người đang đau khổ.

Kết thúc, Đức Thánh Cha bày tỏ ước mong: “Xin cho Giáo hội trở thành gia đình của tất cả những người bị bỏ lại bên vệ đường”. Ngài mời gọi noi gương người Samari nhân hậu, xây dựng một Giáo hội “biết dừng lại, đến gần, chạnh lòng thương, xức dầu lên những vết thương, nuôi dưỡng và trở thành một mái nhà”.


Thứ Ba, 18 tháng 8, 2026

GẦN 150.000 NGƯỜI THAM DỰ CUỘC RƯỚC KIỆU VÀ THÁNH LỄ ĐẠI TRIỀU KÍNH TRỌNG THỂ ĐỨC MẸ HỒN XÁC LÊN TRỜI

 

GẦN 150.000 NGƯỜI THAM DỰ CUỘC RƯỚC KIỆU VÀ THÁNH LỄ ĐẠI TRIỀU KÍNH TRỌNG THỂ ĐỨC MẸ HỒN XÁC LÊN TRỜI



WTGPH (17/8/2026) – Từ sáng tinh sương ngày 15/8/2026, khi bình minh chưa thức giấc, gần 150.000 người có mặt tại Trung tâm Hành hương Toàn quốc Đức Mẹ La Vang, cùng chung tiếng ngợi khen Thánh Mẫu Thiên Chúa qua cuộc rước kiệu tôn vinh Đức Mẹ La Vang, khởi đi từ Linh đài Đức Mẹ đến Lễ đài Vương cung Thánh đường.


Cuộc rước kiệu được cử hành lúc 04g30, do Đức cha Giuse Huỳnh Văn Sỹ – Giám mục Giáo phận Nha Trang chủ sự. Cùng tham dự có Đức cha Giuse Nguyễn Năng – Tổng Giám mục Tổng Giáo phận Sài Gòn, Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam; Đức cha Giuse Đặng Đức Ngân – Tổng Giám mục Tổng Giáo phận Huế; Đức cha Giuse Nguyễn Chí Linh – Nguyên Tổng Giám mục Tổng Giáo phận Huế; Đức cha Giuse Đỗ Mạnh Hùng – Giám mục Giáo phận Phan Thiết; Đức cha Vinh sơn Nguyễn Văn Bản – Giám mục Giáo phận Hải Phòng; Đức cha Giuse Trần Văn Toản – Giám mục Giáo phận Long Xuyên; Đức cha Phêrô Kiều Công Tùng – Giám mục Giáo phận Phát Diệm, Đức cha Giuse Nguyễn Đức Cường – Giám mục Giáo phận Thanh Hóa; Đức cha Alôsiô Nguyễn Hùng Vị – Giám mục Giáo phận Kontum; Đức cha Đaminh Hoàng Minh Tiến – Giám mục Giáo phận Hưng Hóa, Đức cha Gioan Baotixita Nguyễn Quốc Hưng – Giám mục Phó Giáo phận Qui Nhơn; Đức cha David Zubik – Nguyên Giám mục Giáo phận Pittsburgh (Hoa Kỳ), Cha Barnaba Trần Đình Phục – Tổng Đại diện Tổng Giáo phận Huế, Cha Đaminh Phan Hưng – Đại diện Giám mục Tổng Giáo phận Huế, quý Đức ông, quý Cha trong và ngoài Giáo phận.


Mở đầu, Đức cha Giuse Huỳnh Văn Sỹ nói lời dẫn nhập và dâng lời nguyện khởi sự cuộc rước kiệu. Đức cha chủ sự nhấn mạnh cuộc rước kiệu này là truyền thống tốt đẹp tiền nhân để lại, “trước khi dâng Thánh lễ trọng thể kính Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, con cái Mẹ từ khắp mọi miền đất nước, cả bà con hải ngoại đang có mặt tại Linh địa La Vang tổ chức rước kiệu Mẹ, để cùng Mẹ tôn vinh và tạ ơn Thiên Chúa vì hồng phúc cao quý Chúa đã ban cho Mẹ”.


Sau khi xông hương, Thánh tượng Đức Mẹ La Vang được cung nghinh từ Linh đài, qua Tháp cổ, đến sân Nhà Hành hương, qua Quảng trường Vương cung Thánh đường và tiến lên Lễ đài Vương cung Thánh đường hòa trong lời kinh Mân côi năm sự mừng. Theo sau Thánh giá đèn hầu là đại diện cộng đoàn tín hữu, tu sĩ nam nữ, chủng sinh, phó tế, linh mục đoàn và các giám mục.


Thánh tượng Đức Mẹ về đến Lễ đài lúc bình minh ở phía đông chân trời dần ló rạng. Đức Mẹ La Vang “tay bồng Vua thơ bé, tay tràn ơn cứu thế […] tiến lên như rạng đông. Đẹp như mặt trăng, rực rỡ như mặt trời. Oai hùng như đạo binh xếp hàng vào trận.” (x. Kìa Bà Nào – Lm. Hoàng Diệp). Kết thúc cuộc rước kiệu, cộng đoàn sốt sắng ca tụng Thiên Chúa, tôn vinh Đức Mẹ với lời kinh Thánh Mẫu La Vang.


150.000 người sốt sắng tham dự Thánh lễ Đại triều kính trọng thể Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời

“Trong niềm vui và hạnh phúc của Đại hội Hành hương Đức Mẹ La Vang lần thứ 32, giờ đây chúng ta cùng nhau cử hành Thánh lễ Bế mạc, cũng là ngày trọng đại mừng kính Đức Maria Hồn Xác Lên Trời. Sau những ngày quy tụ bên Mẹ, giờ đây chúng ta không muốn rời La Vang như một người vừa kết thúc cuộc hành hương, nhưng muốn trở về như những người con đã được gặp Mẹ, được Mẹ ôm ấp và được Mẹ sai đi.” – Đó là một trong những tâm tình mà Đức Tổng Giám mục Giuse Đặng Đức Ngân mời gọi đông đảo cộng đoàn tín hữu khi khởi sự Thánh lễ Đại triều kính trọng thể Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời ngay sau cuộc rước kiệu tôn vinh Đức Mẹ La Vang. Đây là Thánh lễ cao điểm của Đại hội Hành hương Đức Mẹ La Vang lần thứ 32 và cũng là Thánh lễ Bế mạc.


Mở đầu Thánh lễ, ngoài những tâm tình trên, Đức Tổng Giám mục Giuse khẳng định Đức Mẹ La Vang đã ở giữa cộng đoàn tín hữu, đã lắng nghe và nhận lời mỗi người kêu xin. Với mầu nhiệm Đức Maria được rước lên trời cả hồn lẫn xác, ngài nhấn mạnh đó là đích điểm tối hậu của hành trình đức tin mỗi người, là niềm hy vọng cao trọng nhất vào lời hứa cứu độ của Thiên Chúa. Với Thánh lễ này, Đức Tổng Giám mục Giuse mời gọi quý Đức Giám mục cùng mọi thành phần dân Chúa hiện diện cùng phó dâng Hội thánh Việt Nam, quê hương Việt Nam cho Đức Mẹ La Vang.


Chia sẻ sứ điệp Lời Chúa, Đức Tổng Giám mục Giuse Nguyễn Chí Linh, nguyên Tổng Giám mục Huế, mời gọi cộng đoàn phụng vụ thân thưa với Đức Mẹ La Vang tâm tình của mình: “Lạy Mẹ La Vang, chúng con về từ mọi nẻo đường Huế, Sài Gòn, Hà Nội, ba miền nối liền một giải. Chúng con về từ hải ngoại nghìn trùng xa cách. Chúng con đang ở bên nhau đây. Chúng con đang quây quần chung quanh Mẹ đây. Chúng con kính chào Mẹ.”


Đức Tổng Giám mục Giuse Nguyễn Chí Linh một lần nữa khẳng định Đại hội La Vang là “cơ hội ngàn vàng để chúng ta cảm nhận tình hiệp nhất của Hội thánh trong vòng tay tự ái ấm áp của Mẹ.” Theo ngài, Hội thánh là một đại gia đình đoàn kết yêu thương, Hội thánh phải là và nên là không gian lành mạnh để chúng ta hít thở dưỡng khí bác ái huynh đệ.

Qua hơn 200 năm, La Vang vẫn vang vọng sứ điệp của hy vọng. “Năm 1798, Đức Mẹ đã hiện ra, nhưng không phải để báo thù cho con cái bị đối xử bạo ngược. Đức Mẹ hiện ra để băng bó vết thương do hận thù gây ra. Vì thế, bất kỳ ai gieo rắc hận thù, bất kỳ ai theo đuổi ganh ghét, bất kỳ ai chủ trương kỳ thị hay triệt hạ anh em, đều vô tình đi ngược lại thông điệp tình thương của Mẹ La Vang. Mẹ đã đến đây, không phải để an ủi bằng lời nói suông. Mẹ đến đây để hành động, để trực tiếp can thiệp cứu giúp những người khốn khổ.”


Theo định hướng mục vụ năm 2026, mỗi Kitô hữu được mời gọi trở thành “một môn đệ thừa sai”: môn đệ thừa sai trước hết phải là người môn đệ biết phục vụ và hiến mình cho tha nhân. Đức Maria chính là mẫu gương tuyệt vời. Sau khi đón nhận lời truyền tin, Mẹ lập tức lên đường đến với bà Elizabeth. Được Chúa trao ban, Mẹ không giữ riêng cho mình, nhưng trao ban bằng sự phục vụ.

Cuộc hành hương rồi sẽ khép lại, nhưng sứ mạng của mỗi người mới thực sự bắt đầu khi trở về cuộc sống. Đại hội chỉ thành công khi mỗi người biết mang tinh thần của Mẹ La Vang vào gia đình, cộng đoàn và xã hội. Gặp Mẹ, người tín hữu trở về với một ánh mắt mới, tinh thần mới và trái tim nồng nàn hơn; can đảm đối diện những gian nan, yêu thương tha nhân hơn và tha thiết cầu nguyện hơn. Chính Mẹ sẽ đồng hành và dẫn bước mỗi người trên hành trình trở về quê trời.


Thánh lễ tiếp nối với kinh Tín kính và lời nguyện tín hữu.

Tiếp đến, cộng đoàn bước vào phần phụng vụ Thánh Thể. Phần dâng lễ, đoàn dâng lễ vật đại diện cho ba giáo tỉnh của Giáo hội Việt Nam dâng lên Thiên Chúa phong phú những hoa màu ruộng đất, sản vật vùng miền.


Dưới bóng Mẹ, cộng đoàn tín hữu lãnh nhận Bí tích Thánh Thể, là bảo chứng của bàn tiệc thiên quốc giữa cảnh lữ thứ trần gian tiến về quê trời với niềm hy vọng được lên trời như Mẹ.

Đại hội La Vang 32 khép lại: “Vẫn cứ đợi tới mùa Thu tháng Tám”

Sau lời nguyện hiệp lễ, Đức Tổng Giám mục Giuse Đặng Đức Ngân – Trưởng ban Tổ chức Đại hội Hành hương Đức Mẹ La Vang lần thứ 32 bày tỏ tâm tình tri ân quý Đức Giám mục, quý Linh mục, Tu sĩ nam nữ, Chủng sinh, các ban ngành, các giáo xứ, các cấp chính quyền và các cá nhân đã quảng đại cộng tác tổ chức trong nhiều tháng qua.


Thân thưa với cộng đoàn trong giây phút bế mạc Đại hội, Đức Tổng Giám mục Giuse mời gọi mỗi người khi từ Nhà Mẹ La Vang trở về, hãy mặc lấy tâm tình và các nhân đức của Đức Mẹ: “Một ánh mắt biết cảm thông hơn, một lời nói biết xây dựng hơn, một trái tim biết tha thứ hơn, một đời sống biết phục vụ hơn, một niềm hy vọng mạnh mẽ hơn. Đó là cách chúng ta loan báo Tin mừng. La Vang là nơi để đến và cũng là nơi để lên đường: chúng ta đến để được an ủi và trở về ủi an người khác; chúng ta đến nghe Tin mừng và trở thành người loan báo Tin mừng.”


Tuyên bố bế mạc Đại hội, Đức Tổng Giám mục Giuse mời gọi cộng đoàn hiện diễn vãy mũ, vãy khăn chào Đức Mẹ, chào quý Đức Giám mục và chào nhau trước khi lên đường trở về. Ngài cầu chúc các đoàn hành hương lên đường trở về bình an.


Sau cùng, Đức Tổng Giám mục Giuse long trọng ban phép lành với ơn Toàn xá cho cộng đoàn hiện diện.


Đại hội Hành hương Đức Mẹ La Vang lần thứ 32 là giấc mơ đã thành toàn sau biết bao ngày đợi năm chờ. Ba ngày Đại hội khép lại, nhưng lời mời gọi lên đường được gửi đến từng anh chị em tham dự. Lên đường để đem Chúa đến cho tha nhân, lên đường để thông truyền Tin mừng cứu độ, lên đường để giới thiệu với thế giới về một Thiên Chúa tình yêu, một Hiền mẫu La Vang luôn phù hộ các giáo hữu. Về La Vang sau bao bể dâu của cuộc đời, về La Vang sau bao trắc trở của quãng đường vật lý và cả những xa cách tâm tình, để khi về với Mẹ, mỗi người vẫn thầm thĩ:

“Đất Mẹ La Vang, đường vạn dặm,
Lòng con nhớ Mẹ, nhớ như in.
Và khi rừng thẳm đón chuông chiều,
Con đã về đây với Mẹ yêu.
Muốn nói ngàn lời, nhưng bỗng lặng,
Nhìn thôi, đã nói biết bao nhiêu”.
(x. La Vang Quê Mẹ – Trần Quang Chu)


Mẹ vẫn ở đó, La Vang là Nhà Mẹ mà cánh cổng chẳng khi nào cửa đóng then cài. “Vẫn cứ đợi tới mùa Thu tháng Tám” – câu thơ ấy vẫn sẽ mãi âm vang trong lòng người tín hữu, để mỗi độ tháng Tám về, con cái Mẹ từ ba miền Bắc Trung Nam và cả hải ngoại lại tụ hội nơi Nhà Mẹ La Vang:

“Nước Hồng giang reo vui ngày đoàn tụ
Dòng Hương Huế có Mẹ hiền thiên thu
Câu hò lơ Cửu Long về hợp tấu
Hội trùng dương sóng vỗ nối địa cầu.”

Ban Truyền thông Tổng Giáo phận Huế

Xem thêm hình ảnh tại đây!

Nguồn: tonggiaophanhue.org