Sau các bài Linh thao được hướng dẫn theo linh đạo của Thánh Bernard thành Clairvaux, những suy niệm mùa Chay năm nay tự nhiên được khơi hứng từ kinh nghiệm Kitô giáo của Phanxicô Assisi. Hai vị thánh này không cách nhau bao xa: Bernard qua đời năm 1153, còn Phanxicô sinh năm 1181, chưa đầy ba mươi năm sau đó. Dường như ngọn đuốc bước theo Tin mừng được trao truyền từ tay người này sang tay người khác qua các thế kỷ, mà chưa bao giờ bị tắt lịm.

Năm nay đánh dấu kỷ niệm tám trăm năm ngày qua đời của Thánh Phanxicô, và Đức Thánh Cha mong muốn kỷ niệm này được ghi dấu bằng một Năm thánh đặc biệt mới, mời gọi toàn thể Giáo hội một lần nữa để cho mình được chạm tới bởi ân sủng Thiên Chúa qua chứng tá của Người Nghèo thành Assisi. Phanxicô không chỉ là một vị thánh để tưởng nhớ hay ngưỡng mộ: Ngài là một con người được ngọn lửa Tin mừng xuyên thấu, có khả năng khơi dậy trong mỗi chúng ta niềm khát khao về một đời sống mới trong Thần Khí.

Để lần theo hành trình thiêng liêng của ngài, bài suy niệm thứ nhất tập trung vào cuộc hoán cải của Phanxicô và gồm năm bước: sự thay đổi trong cảm nếm mà ân sủng mang lại nơi cảm thức; sự lệch lạc do tội lỗi gây nên và nhu cầu được chữa lành tận căn; đức khiêm nhường như thước đo đích thực của sự cao cả nơi con người; việc chọn trở nên nhỏ bé như một hình thức sống thích hợp của đời sống Bí tích Rửa tội; và sau cùng, tính liên lỉ của sự hoán cải, vốn không phải là điều hoàn tất một lần là xong, nhưng luôn luôn bắt đầu lại.

1. Sự thay đổi trong cảm nếm

Khi nói đến hoán cải, chúng ta muốn nói đến điều gì? Đó là một câu hỏi cần được đặt ra cách chân thành, bởi có nhiều câu trả lời khác nhau, và không phải tất cả đều trung thành với Tin mừng như nhau. Giáo lý truyền thống mô tả hoán cải như sự trở về với Thiên Chúa sau khi xa lìa vì tội lỗi. Thần học luân lý nhấn mạnh đến chiều kích thay đổi trong cách sống và hành vi. Truyền thống khổ tu lại đề cao sự cần thiết của những thực hành đền tội nhằm kỷ luật hóa thân xác và ý chí. Còn Kinh thánh, về phần mình, sử dụng một thuật ngữ vượt lên trên và bao trùm tất cả những cách tiếp cận ấy: metanoia, một sự biến đổi của tâm trí, của con tim, của cách thức sâu xa mà con người cảm nhận và nhìn nhận thực tại. Không phải chỉ là một sự điều chỉnh hướng đi, nhưng là một sự biến đổi tầm nhìn; không chỉ là một sự sửa đổi hành vi, nhưng là một cuộc biến đổi (transformation) trong cảm thức nội tâm.

Vậy ai đúng? Ở một mức độ nào đó, tất cả đều đúng. Nhưng có một trật tự cần được tôn trọng. Hiểu được hoán cải thực sự bắt đầu từ đâu - nguồn mạch của nó là gì - không phải là một vấn đề thuần lý thuyết, nhưng là vấn đề cụ thể nhất. Nếu sai ngay từ điểm khởi đầu, chúng ta có nguy cơ xây dựng trên những nền móng mong manh.

Chúng ta biết rằng hoán cải theo Tin mừng, trước hết, là sáng kiến của Thiên Chúa, trong đó con người được mời gọi tham dự với tự do trọn vẹn. Nó không phải là sự thụ động hoàn toàn, cũng không phải là một cuộc chinh phục thuần túy. Đó là một lời đáp trả: lời đáp trả thích hợp nhất mà con người có thể dành cho ân sủng đi trước, mời gọi và đánh động họ. Hoán cải diễn ra nơi điểm sâu thẳm nhất của bản tính con người, nơi hình ảnh Thiên Chúa được in dấu trong chúng ta đang chờ được đánh thức. Như thể một điều gì đó đã im lặng từ lâu, nay bỗng bắt đầu rung động trở lại.

Chính tại đây, kinh nghiệm của Phanxicô Assisi trở nên đặc biệt quý giá. Trong bản Di chúc, được đọc cho chép lại vài tháng trước khi qua đời, ngài viết:

“Chúa đã ban cho tôi, người anh em Phanxicô, bắt đầu làm việc đền tội theo cách này: khi tôi còn ở trong tội, việc nhìn thấy những người phong cùi đối với tôi là quá đắng cay. Nhưng chính Chúa đã dẫn tôi đến với họ, và tôi đã tỏ lòng thương xót họ. Và khi rời khỏi họ, điều đã từng là đắng cay đối với tôi đã trở nên ngọt ngào cho cả tâm hồn và thân xác.” (Testament, Franciscan Sources 110).

Khi hồi tưởng những chặng đường thiết yếu của hành trình của mình, Phanxicô trước hết khẳng định rằng sáng kiến hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa. Chính Thiên Chúa đã ban cho ngài ơn được bắt đầu làm việc đền tội, nghĩa là bước vào hành trình hoán cải. Việc “làm việc đền tội” mà Phanxicô nói đến không nên được hiểu như một thực hành khổ chế nhằm đạt được ân sủng của một tương quan mới với Thiên Chúa. Trái lại, nó ám chỉ một sự biến đổi trọn vẹn trong cảm thức: một cách nhìn mới về bản thân, về tha nhân và về thực tại trong ánh sáng Tin mừng.

Sự biến đổi này khởi sự một cách rất cụ thể: khi ngài bắt đầu xót thương tha nhân. Đây chính là trung tâm câu chuyện của ngài. Trong cuộc gặp gỡ với những người phong cùi, Phanxicô trẻ đã trải nghiệm một sự đảo ngược cảm nếm mang tính quyết định: ngài khám phá ra một sự ngọt ngào bất ngờ ngay chính nơi mà ngài không tìm kiếm và cũng không hề mong đợi.

Ngay trong khoảnh khắc tự do trao ban chính mình cho những người nghèo nhất trong xã hội, lần đầu tiên quên đi bản thân, Phanxicô đã tìm thấy câu trả lời cho nỗi khắc khoải vẫn cư ngụ trong lòng mình: vị đắng của một đời sống đầy ắp nhiều thứ nhưng vẫn trống rỗng điều cốt yếu. Cuộc gặp gỡ ấy tạo nên nơi ngài một chấn động nội tâm sâu xa: điều trước đây là đắng cay, nay trở nên ngọt ngào.

Đó chính là cốt lõi của hoán cải: trước hết không phải là một hành vi của ý chí, nhưng là một sự biến đổi nội tâm, một sự chuyển dịch mầu nhiệm trong cảm thức. Sự biến đổi này không loại trừ sự cộng tác của chúng ta; trái lại, nó làm cho sự cộng tác ấy trở nên chân thật hơn, tự do hơn và tràn đầy niềm vui hơn. Nỗ lực không biến mất, nhưng đổi dấu. Hoán cải không còn là cố gắng tự sức sửa chữa đời mình, nhưng là một lời đáp trả đối với ân sủng, một ân sủng đã định hình lại cách chúng ta nhìn nhận, phán đoán và khao khát.

Hãy thử nghĩ xem điều gì xảy ra khi sự chuyển biến này vắng bóng. Nếu mỗi ngày chúng ta buộc phải ăn những món mà mình chưa từng cảm nhận được hương vị, ta có thể làm điều đó nhờ kỷ luật trong một thời gian, nhưng không có niềm vui và với sự mệt mỏi ngày càng gia tăng. Nếu chúng ta theo đuổi một niềm đam mê mà chưa từng cảm nghiệm được niềm vui và sự vang vọng nội tâm của nó, thì sớm muộn gì nó cũng trở thành một gánh nặng. Nếu chúng ta xây dựng đời sống với một người mà chưa từng nếm trải tình yêu đích thực, mối tương quan ấy có nguy cơ trở thành một sự ràng buộc nặng nề. Và nếu một người sống đời tu trì mặc tu phục, thực hành các cử chỉ và thốt lên những lời nhân danh một Thiên Chúa chỉ được biết qua lời người khác, mà không có một kinh nghiệm cá vị thật sự về Ngài, thì người ấy sẽ rơi vào một sự bất an sâu xa trong nội tâm, điều này cũng có thể ảnh hưởng đến những người được trao phó cho họ.

Đó là những tình huống khó có thể duy trì lâu dài. Đó là những hoàn cảnh khó có thể duy trì lâu dài. Và điều tương tự cũng xảy ra khi hoán cải bị hiểu sai: khi chúng ta đòi hỏi chính mình - hoặc người khác - phải tuân giữ một luân lý nào đó mà chưa từng nếm trải trước sự ngọt ngào của đời sống mới trong Đức Kitô.

Việc “Làm việc đền tội” mà Thánh Phanxicô nói đến không phải là một chương trình khổ chế tự nguyện, nhưng là khởi đầu của một cuộc chiến nhằm bảo vệ và gìn giữ kho tàng của một một cảm nếm mới mẻ về thực tại, nay đã được tìm lại. Nó hệ tại ở việc trung tín nuôi dưỡng hạt giống sự sống mới mà Thiên Chúa đã gieo vào mảnh đất tâm hồn chúng ta.

2. Sự lệch lạc do tội lỗi

Để hiểu vì sao hoán cải phải mang tính triệt để như vậy - tại sao không đủ chỉ sửa đổi vài hành vi, và vì sao cần một sự đổi mới thực sự của cảm thức - chúng ta phải đi sâu vào vết hằn mà tội lỗi đã khắc vào trong chúng ta. Đó là khoảng cách đau đớn với chính mình, là cuộc giằng co khiến chúng ta không thể thực sự khao khát điều thiện mà ta nhận biết là thiện, là sự rạn nứt giữa con người ta đang là và con người ta muốn trở thành. Thánh Phaolô nói về điều này với sự chân thành đáng kinh ngạc trong Thư gửi tín hữu Rôma:

Thật vậy, tôi làm gì tôi cũng chẳng hiểu: vì điều tôi muốn, thì tôi không làm, nhưng điều tôi ghét, thì tôi lại cứ làm. Nếu tôi cứ làm điều tôi không muốn, thì tức là tôi đồng ý với Lề Luật và nhận rằng Lề Luật là tốt. Vậy thật ra không còn phải là chính tôi làm điều đó, nhưng là tội vẫn ở trong tôi. Tôi biết rằng sự thiện không ở trong tôi, nghĩa là trong xác thịt tôi. Thật vậy, muốn sự thiện thì tôi có thể muốn, nhưng làm thì không.” (Rm 7,15-18)

Những lời này không mô tả tình trạng của một tội nhân không muốn thay đổi, nhưng của một người khao khát điều thiện mà vẫn thấy mình làm điều dữ mà chính mình không muốn. Chính vì thế, hoán cải đòi hỏi cả một đời người: bởi vết thương của tội lỗi không chỉ liên quan đến một vài chọn lựa sai lầm, nhưng còn chạm đến cách thế hiện hữu sâu xa của chúng ta.

Để hiểu nguồn gốc của tình trạng này, chúng ta phải trở về thuở ban đầu. Trình thuật Sáng thế 3 không chỉ nói về một hành vi vi phạm, nhưng còn ghi lại một sự biến đổi sâu xa đã xảy ra nơi con người sau khi bất tuân. Ngay cả trước khi phản ứng của Thiên Chúa được nhắc đến, bản văn đã ghi nhận hai điều quan trọng: con người nhận ra mình trần truồng, và cảm nghiệm nỗi sợ hãi, khiến họ tìm cách ẩn mình trước Thiên Chúa.

Bấy giờ mắt hai người mở ra, và họ thấy mình trần truồng: họ mới kết lá vả làm khố che thân” (St 3,7)

Ðức Chúa là Thiên Chúa gọi con người và hỏi: "Ngươi ở đâu? " Con người thưa: "Con nghe thấy tiếng Ngài trong vườn, con sợ hãi vì con trần truồng, nên con lẩn trốn’” (St 3,9-10).

Sợ hãi và xấu hổ là những hoa trái đầu tiên của tội lỗi. Không phải là một hình phạt đến từ bên ngoài, nhưng là một sự biến đổi phát sinh từ bên trong con người. Trước khi sa ngã, người nam và người nữ trần truồng mà không thấy xấu hổ. Sau khi phạm tội, sự quân bình ấy bị phá vỡ. Một vết nứt xuất hiện: với Thiên Chúa, với tha nhân, và cả với chính mình. Con người không còn cảm thấy bình an; họ luôn cảm nhận mình có gì đó sai lệch và nhìn người khác với sự nghi kỵ. Chính vì thế mà sợ hãi và xấu hổ nảy sinh. Chúng không phải là những cảm xúc bề mặt, nhưng là dấu chỉ của một bất an sâu xa: con người cảm thấy nơi mình có một khoảng cách giữa điều mình khao khát trở thành và điều mình thực sự nhận ra nơi bản thân.

Đó chính là điều tội lỗi gây ra. Nó không làm mất điều gì nơi Thiên Chúa: nó làm biến đổi chính chúng ta. Những tiêu chuẩn trong cảm thức của chúng ta trở nên rối loạn: chúng ta không còn nhận ra cách rõ ràng điều gì là chân, thiện, mỹ. Vì thế, chúng ta cũng đánh mất chuẩn mực đích thực về chính mình, quên đi sự cao cả mà mình được mời gọi đạt tới.

Chúng ta đang sống trong một thời đại mà từ “tội lỗi” có vẻ gần như biến mất khỏi cách suy nghĩ. Trong ý thức chung - và đôi khi ngay cả trong đời sống của Giáo hội - mọi sự được giải thích như là sự mong manh, vết thương, giới hạn, hay điều kiện hóa. Khi tội lỗi còn được nhắc đến, thì thường bị giản lược thành một sai sót nhỏ hay một yếu đuối đơn thuần.

Quan điểm này có phần đúng. Truyền thống thiêng liêng luôn nhìn nhận rằng sự mong manh của con người không thể thể bị giản lược thành ác ý, và việc phán đoán phải luôn đi kèm với lòng thương xót. Vấn đề nảy sinh khi cách nhìn này thay thế, thay vì bổ túc, cho nhãn quan thần học. Nếu mọi tội lỗi chỉ còn được xem như một triệu chứng, và mọi lỗi lầm chỉ là một rối loạn chức năng, thì một điều thiết yếu sẽ bị đánh mất: sự cao cả của tự do con người và trách nhiệm của nó.

Nếu mọi chọn lựa chỉ là kết quả của lịch sử cá nhân, của những tổn thương hay những điều kiện chi phối, thì mọi sự đều có thể được giải thích, và rốt cuộc, cũng có thể được biện minh. Nhưng nếu như thế, thì tự do chỉ còn là ảo tưởng, và trách nhiệm luân lý cũng mất đi ý nghĩa của nó.

Ở đây xuất hiện một nghịch lý: nếu khả năng của sự dữ đích thực không còn tồn tại, thì chúng ta cũng không thể tin vào khả năng của sự thiện đích thực. Khi tội lỗi bị xóa nhòa, thì sự thánh thiện cũng trở thành một đích điểm trừu tượng và khó hiểu.

Chính vì thế đức tin Kitô giáo coi tội lỗi là một thực tại nghiêm túc. Không phải để kết án con người, nhưng để bảo vệ và khẳng định sự cao cả của họ. Nghĩa là nhìn nhận rằng những chọn lựa của con người thực sự có giá trị, rằng tự do của họ là có thật, và với tự do ấy, họ có thể xây dựng hoặc hủy hoại: chính mình, tha nhân và cả thế giới. Đồng thời, điều đó cũng có nghĩa là nhìn nhận rằng trong chúng ta có một vết thương thực sự, không thể được chữa lành chỉ bằng vài điều chỉnh bề ngoài, nhưng đòi hỏi một sự chữa lành tận căn.

Hoán cải là một hành trình đòi hỏi, bởi vì nó mang sứ mạng chữa lành toàn bộ hiện hữu của chúng ta, bằng cách tái lập tương quan với Thiên Chúa, Đấng Tạo Hóa và là Đấng Cứu Độ của chúng ta. Đó là một ân ban của ân sủng, nhưng đồng thời được thể hiện cụ thể qua việc kiên trì lặp lại những cử chỉ và chọn lựa mà chúng ta đã bắt đầu sống trong tự do và tình yêu. Hiệu quả của hành trình này hệ tại chính ở khả năng trung tín gìn giữ những cử chỉ ấy theo thời gian, ngay cả khi chúng trở nên mệt mỏi hay lặp đi lặp lại. Đó không phải là một nỗ lực khô cằn, nhưng là sự trung tín của những người đã thoáng thấy ý nghĩa và giá trị của điều mình đang sống, và chính vì thế, họ tiếp tục thực hành với tự do và niềm vui.

Khi Thánh Phanxicô, sau cuộc gặp gỡ với những người phong cùi, lần đầu tiên cảm thấy nơi mình một điều gì đó chân thật và tự do, thì lời đáp trả của ngài không phải là đầu hàng hay từ bỏ, nhưng là sự nhận ra. Và khi, trong nhà nguyện nhỏ Portiuncula, ngài lắng nghe Tin mừng và hiểu rằng những lời ấy đang gọi đích danh mình, ngài đã đáp lại bằng một tiếng reo vui: “Đây chính là điều tôi ước muốn, đây là điều tôi tìm kiếm, đây là điều tôi khao khát thực hiện hết lòng” (First Life of Thomas of Celano 22, Franciscan Sources 356).

Phanxicô bắt đầu làm việc đền tội, bởi vì trong cuộc gặp gỡ với Đức Kitô, ngài cuối cùng đã tìm lại chính mình: hình ảnh con người mới, “đã được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa để sống thật sự công chính và thánh thiện” (Ep 4,24), hình ảnh mà tội lỗi đã làm lu mờ, và nay ân sủng đang đưa trở lại ánh sáng.

3. Thước đo được tái khám phá

Trong lịch sử Giáo hội, Thánh Phanxicô Assisi được biết đến như người đã ôm lấy sự khó nghèo triệt để, chọn nó làm hình thức cốt yếu cho đời sống Tin mừng của mình. Tuy nhiên, nếu đọc kỹ các tác phẩm của ngài, ta nhận ra rằng tình yêu đối với sự nghèo khó nơi thánh nhân không bao giờ tách rời khỏi lòng trân trọng sâu xa đối với đức khiêm nhường. Trong Regula non Bullata, ngài viết: “Tất cả anh em phải nỗ lực noi theo sự khiêm nhường và nghèo khó của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (Regula non Bullata IX). Trong một bài ca khen nổi tiếng, ngài viết: “Lạy Đức Khó Nghèo thánh thiện, xin Chúa gìn giữ chị cùng với người em của chị là Đức Khiêm Nhường thánh thiện”, và giải thích cách hai nhân đức này cùng hoạt động để thanh luyện con người: “Đức Khó Nghèo thánh thiện phá hủy lòng ham muốn của cải, lòng tham lam và những lo toan của thế gian. Đức Khiêm Nhường thánh thiện phá hủy tính kiêu ngạo và tất cả những người thuộc về thế gian.” (The Salutation of the Virtues, Franciscan Sources, 256,258).

Đối với Phanxicô, khó nghèo và khiêm nhường không bao giờ tách rời, bởi cả hai phát xuất trực tiếp từ mầu nhiệm Nhập thể. Trong Thư gửi toàn Dòng, khi suy niệm về mầu nhiệm Thánh Thể, ngài kêu lên: “Ôi sự khiêm hạ cao cả! Ôi sự cao cả khiêm hạ! Chúa của vũ trụ, Thiên Chúa và Con Thiên Chúa, đã tự hạ mình đến nỗi vì phần rỗi chúng ta, Người ẩn mình dưới hình bánh tầm thường!” (Franciscan Sources, 221). Và sau trải nghiệm mang Dấu Thánh trên núi La Verna, ngài hướng về Thiên Chúa mà thưa: “Chính Ngài là sự khiêm nhường” (The Praises of God, Franciscan Sources 261).

Đối với Phanxicô, Đức Kitô nghèo khó và khiêm hạ không chỉ là một hình ảnh đạo đức giữa nhiều hình ảnh khác, nhưng là tên gọi chính xác nhất của Thiên Chúa, Đấng đã mạc khải trong mầu nhiệm Nhập thể và trong cuộc Vượt qua của Ngôi Lời hằng hữu. Trong khó nghèo và khiêm nhường, ngài nhận ra những nét đặc trưng của chính Thiên Chúa, mà con người được mời gọi sống, vì họ được tạo dựng theo hình ảnh và giống như Thiên Chúa.

Nếu sự khó nghèo, theo hình thức triệt để mà Thánh Phanxicô sống, chỉ dành cho những ai cảm thấy được mời gọi vào ơn gọi ấy, thì khiêm nhường lại là con đường mà mọi người đã lãnh nhận Bí tích Rửa tội đều được kêu gọi bước theo, nếu họ muốn đón nhận trọn vẹn ân sủng của đời sống trong Đức Kitô.

Vì thế, cần phải tái khám phá ý nghĩa đích thực của một từ ngữ thường bị hiểu lầm, bắt đầu từ chính nguồn gốc của nó. Từ Latin humilitas có liên hệ với humus, nghĩa là đất. Người khiêm nhường là người phát xuất từ đất, thuộc về đất và không quên rằng mình là bụi đất. Cử chỉ xức tro mở đầu mùa Chay - “Hãy nhớ mình là bụi tro, và sẽ trở về bụi tro” - không phải là lời mời gọi buồn bã hay tự khinh miệt bản thân, nhưng là trở về với sự thật. Đó là cách Giáo hội khôi phục nơi chúng ta thước đo chân thật nhất của chính mình, giải thoát ta khỏi sức nặng ngột ngạt của những gì chúng ta không là.

Tuy nhiên, đức khiêm nhường thường bị hiểu sai. Trong thế giới cổ điển, khái niệm này hầu như luôn mang ý nghĩa tiêu cực: nó chỉ điều tầm thường, hèn mọn, nô lệ. Một số triết gia sau này (như Spinoza và Nietzsche) cũng kế thừa sự nghi ngại ấy, khi xem khiêm nhường hoặc là một cảm xúc buồn bã phát sinh từ việc chiêm niệm về sự bất lực của bản thân, hoặc là nhân đức của những kẻ hèn nhát, những người vốn tôn vinh sự yếu đuối như một giá trị. Ngay cả trong lịch sử linh đạo Kitô giáo, khiêm nhường đôi khi cũng bị bóp méo: bị giản lược thành sự khinh miệt bản thân, thành việc khổ chế chỉ vì khổ chế, thậm chí một chiếc mặt nạ của sự giả hình. Vì thế, khiêm nhường đã trở thành một từ khó nói ra và còn khó sống hơn nữa.

Nhưng khiêm nhường Kitô giáo không liên quan gì đến những hình thức giả mạo ấy. Truyền thống đã làm sáng tỏ điều này: khiêm nhường không đơn thuần là một nhân đức đạt được nhờ ý chí, nhưng là một cách hiện diện trong thế giới và trong các mối tương quan; khiêm nhường là hoa trái của một kinh nghiệm- thường được đánh dấu bởi chính những sự hạ nhục, vốn làm xẹp đi hình ảnh phồng to mà chúng ta có về chính mình và đưa chúng ta trở lại với sự thật. Khiêm nhường là ân ban của Thánh Thần trước cả khi là một thực hành khổ chế.

Đức Giêsu hiểu điều này cách rõ ràng đến nỗi Người đã làm cho khiêm nhường trở thành phẩm chất duy nhất mà trong toàn bộ Tin mừng, Người minh nhiên mời gọi chúng ta bắt chước. Người không nói: hãy học nơi Ta cách làm phép lạ hay cho kẻ chết sống lại. Người chỉ nói: “Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường” (Mt 11,29). Trong lời này, Người đã tóm kết toàn bộ cách hiện hữu của mình giữa thế gian. Từ đó, các giáo phụ đã rút ra một kết luận triệt để: sống khiêm nhường không phải là thêm thắt điều gì đó vào đời sống Kitô hữu bình thường, nhưng là hiểu và sống trọn vẹn đời sống ấy dưới ánh sáng Tin mừng. Người khiêm nhường, nói cho cùng, chính là người Kitô hữu đích thực. Thánh Augustinô, khi mời gọi Dioscorus đón nhận đức tin Kitô giáo, đã viết rằng trên con đường chân lý: “Bước thứ nhất là khiêm nhường; bước thứ hai là khiêm nhường; bước thứ ba cũng là khiêm nhường: và tôi sẽ tiếp tục lặp lại như thế bao lâu anh còn xin được chỉ dẫn” (Letter 118: 3.22).

Đức khiêm nhường không làm cho con người trở nên nghèo nàn: khiêm nhường đưa con người trở về với chính mình. Khiêm nhường không làm giảm giá trị con người, nhưng khôi phục nơi họ sự cao cả đích thực. Chính vì thế, khiêm nhường gắn bó mật thiết với sự hoán cải. Tội nguyên tổ phát sinh chính từ việc khước từ khiêm nhường: từ việc không muốn chấp nhận mình là con người hữu hạn và lệ thuộc vào Thiên Chúa. Do đó, hoán cải chỉ có thể được hiểu như một sự trở về với khiêm nhường. Không phải là hạ thấp mình xuống dưới thực tại của mình, nhưng là trở về với chính thực tại ấy. Một sự bước xuống khỏi lòng tự tôn giả tạo để đi vào sự thật của bản thân, hầu khám phá rằng chính sự thật ấy, ngay từ thuở ban đầu, đã được Thiên Chúa chúc phúc.

4. Trở nên nhỏ bé hơn

Khi trở lại với cuộc gặp gỡ của Phanxicô với những người phong cùi, chúng ta có thể nhận ra một khía cạnh còn đáng kinh ngạc hơn trong trực giác Tin mừng của ngài. Phanxicô là một con người khao khát sự viên mãn: ngài tìm kiếm vinh quang, theo đuổi những giấc mơ và muốn sống một đời sống mãnh liệt. Suốt cuộc đời, ngài từng cố gắng để trở nên “lớn lao hơn”: một thương gia thành đạt, một hiệp sĩ, một người có danh giá. Nhưng những khát vọng ấy đã không mang lại cho ngài điều ngài tìm kiếm. Thế nhưng, khi đứng trước một người “nhỏ bé hơn” mình, điều bất ngờ đã xảy ra: sự cao cả đích thực của ngài được bày tỏ. Không phải qua chinh phục, nhưng qua cái ôm. Không phải bằng cách vươn lên, nhưng bằng cách cúi mình xuống.

Từ đó, Phanxicô hiểu ra một điều đáng kinh ngạc: trong thế giới do Thiên Chúa tạo dựng, vị trí ưu tiên thuộc về những người bé nhỏ. Chính nơi họ mà “quyền năng” được nói đến trong Tin mừng, quyền trở nên con cái Thiên Chúa, được biểu lộ. Thật vậy, một đứa trẻ hoàn toàn bình an khi phải lệ thuộc vào cha mình. Vì thế, nó không sợ được là chính mình và cũng không xấu hổ khi cầu xin. Từ sự tự do này phát sinh một sức mạnh đặc biệt: khả năng khơi dậy điều thiện nơi người khác. Những người bé nhỏ, với sự mong manh của mình, đánh thức lòng thương xót, mà có lẽ là nguồn năng lực quý giá nhất trong thế giới.

Chính vì thế, Người Nghèo của Assisi đã yêu cầu các bạn đồng hành của mình gọi nhau là “anh em hèn mọn” (friars minor). Không phải để tỏ ra khiêm tốn hơn, nhưng để thực sự sống như những người bé nhỏ: những con người không chiếm hết không gian, nhưng mở ra không gian cho người khác. Đối với Phanxicô, trở nên nhỏ bé chính là cách cụ thể để thể hiện Tin mừng: một sự cởi mở và hiếu khách triệt để đối với tha nhân.

Để dạy các tu sĩ giá trị của vị trí thứ yếu này, Phanxicô khuyên họ đi xin của bố thí khi công việc không đủ bảo đảm những nhu cầu thiết yếu.

Khi cần thiết, họ hãy đi xin của bố thí… Những anh em làm việc để nhận được của ấy sẽ lãnh nhận phần thưởng lớn lao, đồng thời làm giàu và sinh ích cho những người bố thí cho họ, vì tất cả những gì con người để lại trong thế gian này sẽ qua đi, còng họ sẽ lãnh nhận phần thưởng từ Chúa vì lòng bác ái và những việc bố thí họ đã thực hiện” (Regula non Bullata, IX, Franciscan Sources 31).

Đối với Phanxicô, việc đi xin của bố thí không phải là một chiến lược hợp pháp - thậm chí khôn khéo - để có được lương thực và của cải vật chất. Nhưng đó là một cách khơi dậy lòng thương xót và quảng đại nơi người khác: giúp họ cũng có thể sống cùng một kinh nghiệm mà chính ngài đã trải qua trong cuộc gặp gỡ với những người phong cùi.

Trong Tin mừng, Đức Giêsu nhiều lần nhấn mạnh đến sự nhỏ bé như là chìa khóa của mầu nhiệm Nước Trời và như điều kiện để được bước vào đó. Người ví logic của Tin mừng với một hạt giống: nhỏ bé, nhưng có thể trở thành một cây lớn cho chim trời đến làm tổ trên cành. Người cũng giải thích cho các môn đệ, vốn là những người luôn bị cám dỗ bởi giấc mơ vĩ đại, rằng chỉ những ai trở nên nhỏ bé như trẻ thơ mới có thể vào Nước Trời. Thật vậy, Người khẳng định rằng ai muốn làm lớn thì phải trở nên nhỏ bé và làm người phục vụ mọi người.

Phải chăng đó chẳng phải chính là bí mật cao cả của mầu nhiệm Nhập thể sao? Tại sao Thiên Chúa, khi muốn mang lấy nhân tính của chúng ta, lại làm như thế không chỉ bằng cách trở thành một con người, mà còn trở thành một hài nhi, được sinh ra từ cung lòng Đức Trinh nữ Maria? Không chỉ để khơi dậy sự kinh ngạc và thán phục, nhưng còn để đánh thức điều tốt đẹp nhất nơi nhân tính của chúng ta. Chính khi đứng trước một Đấng không gợi lên sợ hãi hay cạnh tranh, chúng ta mới thôi sợ hãi và xấu hổ, đồng thời bắt đầu lại trao tặng chính mình như mình là.

Vì thế, trở nên nhỏ bé không phải là từ bỏ hay tự hạ thấp: đó là một chiều kích thiết yếu của đời sống Kitô hữu. Dĩ nhiên, không phải mọi hình thức nhỏ bé đều chân thật. Đôi khi, điều chúng ta gọi là khiêm nhường lại chỉ là một cách tinh vi và đánh lừa, qua đó chúng ta nuôi dưỡng những bất an của mình, cho phép những giới hạn chi phối mình, hoặc rút lui khỏi nỗ lực sống và xây dựng các mối tương quan. Đó là một thứ giả mạo mang nhiều mặt nạ. Nhưng khi chúng ta chọn trở nên - chứ không phải chỉ ở lại - nhỏ bé, vì đã nhận ra sự nhỏ bé của chính Thiên Chúa và cảm nghiệm mình được Ngài đón nhận và yêu thương, thì chọn lựa ấy không phải là một sự thoái lui hay từ bỏ, nhưng đó là dung mạo của con người mới, được phục hồi nơi chúng ta nhờ Bí tích Rửa tội.

5. Sự Hoán cải liên lỉ

Nếu hoán cải là một sự biến đổi trong cảm thức nội tâm, vốn chữa lành sự mất quân bình do tội lỗi gây ra và đưa chúng ta trở về đúng thước đo của nhân tính - rằng sự nhỏ bé giúp chúng ta được thông phần vào bản tính Thiên Chúa - thì vẫn còn một bước sau cùng, có lẽ là bước đòi hỏi nhất: nhận ra rằng hoán cải không bao giờ kết thúc.

Chúng ta thường hình dung hoán cải như một chuyển biến rõ ràng: trước hết là tội lỗi, rồi quyết định thay đổi, và cuối cùng là con đường nên thánh. Đó là một khuôn mẫu đem lại sự an tâm, nhưng đời sống trong Thánh Thần thì phong phú và kiên nhẫn hơn nhiều so với suy nghĩ của chúng ta. Tội lỗi, hoán cải và ân sủng không phải là những giai đoạn nối tiếp nhau, nhưng đan xen với nhau trong đời sống thực. Chúng ta vẫn là những tội nhân, luôn ở trong tiến trình hoán cải, và chính trong cách thế này, chúng ta được Thánh Thần thánh hóa. Hoán cải nghĩa là không ngừng bắt đầu lại chuyển động của con tim, nhờ đó sự nghèo khó của chúng ta mở ra cho ân sủng của Thiên Chúa.

Diễn từ này, rốt cuộc, không xa lạ với chúng ta: mỗi mùa Chay đều mời gọi chúng ta ý thức trách nhiệm kiểm chứng sức sống của Bí tích Rửa Tội nơi mình. Tuy nhiên, khi hoán cải mang lấy khuôn mặt cụ thể của sự nhỏ bé, thì nơi chúng ta lại xuất hiện một sức kháng cự. Chúng ta chấp nhận thay đổi, nhưng khó chấp nhận việc để mình được “thu nhỏ lại”. Chúng ta thích củng cố bản thân hơn là giảm bớt hình ảnh và những nhu cầu của mình.

Vì thế, con người cũ lại trỗi dậy: đôi khi qua những tội lỗi rõ ràng, đôi khi qua những hình thức tinh vi hơn, thậm chí mang dáng vẻ đạo đức: như nhu cầu được nhìn nhận, khát khao một vị thế, hay tính quy ngã. Chính vì vậy, cuộc chiến là có thật: đó là cuộc chiến để vẫn nhỏ bé và khiêm hạ. Đó là công việc nội tâm không ngừng vốn giải thoát chúng ta khỏi hình ảnh về chính mình và giúp chúng ta thực sự phục vụ cách tự do và cụ thể.

Thánh Phaolô Tông Đồ hiểu rất rõ cuộc chiến để gìn giữ sự nhỏ bé và tự do của con cái Thiên Chúa. Trong thư thứ hai gửi tín hữu Côrintô, khi bị cáo buộc là yếu đuối trong khi những “siêu tông đồ” khác áp đặt mình bằng sức mạnh, ngài đã từ chối con đường khoe khoang. Không phải vì thiếu lý lẽ, nhưng vì ngài đã hiểu một điều mang tính quyết định: sự yếu đuối không phải là một giai đoạn cần vượt qua, nhưng chính là hình thức đời sống của ngài trong Đức Kitô. Ngài viết:

Tôi rất vui mừng và tự hào vì những yếu đuối của tôi, để sức mạnh của Ðức Kitô ở mãi trong tôi… Vì khi tôi yếu, chính là lúc tôi mạnh.” (2 Cr 12,9–10)

Đây không chỉ là một cử chỉ khiêm hạ mang tính cá nhân: đó là một tuyên bố thần học. Sự nhỏ bé không phải là một chiến lược hay một thái độ bên ngoài, nhưng là hình thức của đời sống Bí tích Rửa tội. Người Kitô hữu chọn xuất hiện trong tình trạng không vũ trang, bởi vì họ bước theo Thầy của mình, Đấng đã tự hủy và biến thập giá thành nguồn mạch sự sống.

Tuy nhiên, chúng ta thường nghĩ rằng sự nhỏ bé theo Tin mừng chỉ có thể sống được khi mọi sự thuận lợi. Thực ra, điều ngược lại mới đúng: chính trong xung đột và khó khăn mà nó trở nên cần thiết nhất. Khi bản năng thúc đẩy chúng ta tự vệ hoặc áp đặt mình, thì đó chính là lúc chúng ta nhận ra liệu mình đã thực sự học được Tin mừng của thập giá hay chưa. Thật vậy, ánh sáng biểu lộ sức mạnh của nó không phải khi mọi sự đã sáng tỏ, nhưng khi bóng tối bao phủ.

Mầu nhiệm hiệp thông trong Giáo hội được đặt nền trên chính sự nhỏ bé này, như Đức Thánh Cha đã nhắc lại trong buổi tiếp kiến gần đây:

Sự thánh thiện của Giáo hội hệ tại ở điều này: Đức Kitô ngự trong Giáo hội và tiếp tục hiến mình qua sự nhỏ bé và mong manh của các chi thể. Khi chiêm ngắm phép lạ bền bỉ này đang diễn ra nơi Giáo hội, chúng ta hiểu ‘phương thế của Thiên Chúa’: Ngài làm cho mình trở nên hữu hình qua sự yếu đuối của các thụ tạo, tiếp tục tỏ mình và hành động” (Pope Leo XIV, General Audience, 4 March 2026).

Trong những ngày lại một lần nữa bị đánh dấu bởi đau khổ và bạo lực, việc nói về sự nhỏ bé có thể xem ra như một suy tư trừu tượng, gần như một thứ xa xỉ thiêng liêng. Nhưng thực ra, đó là một trách nhiệm rất cụ thể, gắn liền với vận mệnh của thế giới. Hòa bình không chỉ phát sinh từ các thỏa thuận chính trị, hay từ những chiến lược ngoại giao hoặc quân sự, nhưng từ những con người có đủ can đảm để trở nên nhỏ bé: biết lùi lại một bước, từ bỏ bạo lực dưới mọi hình thức, không nhượng bộ trước cám dỗ trả thù và lạm dụng quyền lực, và chọn đối thoại ngay cả khi hoàn cảnh dường như phủ nhận khả năng ấy.

Đây là một nhiệm vụ đòi hỏi và phải được thực hiện mỗi ngày. Chúng ta không thể trì hoãn hay phó thác nó cho người khác. Những ai nhìn nhận mình là con cái Thiên Chúa đều biết rằng sự hoán cải của con tim này liên hệ trực tiếp đến chính mình. Vì thế, chúng ta có thể lặp lại lời mà Thánh Phanxicô, vào cuối đời, khi đã mang Dấu thánh, không ngừng nhắn nhủ các anh em của mình:

Anh em hãy bắt đầu lại để phụng sự Chúa chúng ta, vì cho đến nay chúng ta vẫn chưa tiến bộ bao nhiêu” (Saint Bonaventure, Legenda Maior XIV,1; Franciscan Sources 1237).

Lạy Thiên Chúa toàn năng, hằng hữu, công minh và giàu lòng thương xót, xin ban cho chúng con là những thụ tạo hèn mọn biết, vì tình yêu Chúa mà thực thi điều chúng con nhận biết là Chúa muốn, và luôn ước ao điều làm đẹp lòng Chúa; ngõ hầu, nhờ được thanh luyện trong tâm hồn, được soi sáng trong tâm trí, và được bừng cháy bởi lửa Chúa Thánh Thần, chúng con biết bước theo dấu chân Con yêu dấu của Chúa là Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con; và chỉ nhờ ơn Chúa trợ giúp, chúng con được đến cùng Chúa, lạy Đấng Tối Cao, Đấng trong Ba Ngôi chí thánh và hiệp nhất duy nhất hằng sống, hiển trị và được tôn vinh, là Thiên Chúa toàn năng đến muôn thuở muôn đời. Amen.

Cha Roberto Pasolini, OFM Cap.

Giảng thuyết viên Phủ Giáo hoàng.

Nt. Anna Ngọc Diệp, OP

Dòng Đa Minh Thánh Tâm

Chuyển ngữ từ: vatican.va